Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021
Mật mã BT ( tổng luận về khí sắc )
TỔNG LUẬN VẾ KHÍ SẮC
Khí sắc trên mặt và trên bàn tay là những mật mã về cuộc đời có ý nghĩa quan trọng chỉ kém saư những đường vân tay. về phương diện này, y học truyền thống Trung Quốc đã tích luỹ được những kinh nghiệm phong phú. Khi xem vân tay để chẩn đoán bệnh, ngoài việc căn cứ theo ký hiệu vân tay còn phải dựa vào khí sắc, tức sắc của bàn tay, ngón tay, móng tay, lưỡi, tai, mặt... để xét đoán. Bởi vò các ký hiệu vân tay và sắc khí đều thể hiện tượng bệnh, tượng của vân tay thể hiện ở tầng ngoài cùng, còn tượng của khí sắc thể hiện ở tầng bên trong.
Lý luận truyền thông của Đông y cho rằng trạng thái sinh mệnh của con người do “khí” làm chủ, con người có thể sông được là vì có “khí”, có “khí” thì mới có “thần”, con người một khi bỊ “đoạn khí” thì thần cũng sẽ mất và người cũng sẽ chết. Khái niệm “khí” được đề cập ở đây không phải là “khí” trong không khí giúp con người hô hấp như theo quan điểm của Tây y mà là “khí” trong “thông thiên hạ nhát khí chi nhĩ” như Trang Tử đâ nói, là dạng vật chất nguyên thủy có ý nghĩa sinh mệnh tinh vi nhất cấu thành nên thiên địa vạn vật. Trong cơ thể con người, hình thức tồn tại của “khí” là thể khí, trong đó bao gồm tạng khí, phủ khí, mạch khí, huyệt khí, kinh lạc khí, vị khí, thủy cốc khí, tông khí... Kinh mạch, lạc huyệt là thông đạo huyệt vị giúp thể khí luân chuyển đi khắp cơ thể, ngoại thông vũ trụ đại thiên, nội liên lục phủ ngũ tạng, chi thể, xương cốt, huyết mạch..
Chân khí vũ trụ là một dạng vật chất trong suốt, vô hình, vô chất, vô sắc, vô vị, hay hình dung một cách đơn giản là “nhìn không thấy, sờ không được”. Thế nhưng bên trong nó lại hàm chứa hình, chất, sắc, vị, hay theo như lời của Lão Tử nói là “kỳ trung hữu tinh, kỳ trung hữu tín” (bên trong có tinh khí, bên trong có thông tin). Đây “là tiên thiên chi khí”, nó cấu thành nên “khí tượng” của thể sinh mệnh.
“Khí tượng” được phân chia thành hai loại, một loại là “khí tượng thể sinh mệnh”, có trước sự hình thành “thể sinh mệnh”, đã được vật chất hóa, có thể nhìn thấy, có thể gọi đó là “tiên thiên khí tượng”, nó thường tồn tại ở dạng sương mù có màu trắng. Loại thứ hai là hình thể của tượng vật, do vật chất tạo thành, có thể nhìn thấy, bao gồm tất cả các chât hữu cơ và vô cơ, các thế’ sinh mệnh cao cấp nhất và thấp cấp nhất. Hình thể tượng vật của chúng chịu sự chi phôi của một loại khí cơ, loại khí cơ này chính là hình tượng chuyển hóa bên trong hình thể tượng vật của tiên thiên khí tượng. Chúng đã không còn là vô sắc nữa, cũng không chỉ có màu trắng nữa mà được quy thuộc thể loại, tính chất tùy theo những hình thể tượng vật khác nhau, với những màu sắc là đỏ, vàng, xanh, trắng, đen, ví dụ như gan khí màu xanh, phổi khí màu trắng, tâm khí màu đỏ, tỳ khí màu vàng, thận khí màu đen. Loại khí tượng được tạo thành bởi “khí” của thể sinh mệnh được gọi là “hậu thiên khí tượng”. Do kinh, lạc, huyệt là đường đi và cửa để khí của cơ thể con người giao hoà với khí ở bên ngoài cơ thể, vì vậy, nếu một người có khả năng “nội thị” (tức là có thể nhìn thấu lục phủ ngũ tạng của cơ thể) thì sẽ có thể nhìn thấy khí của một cơ thể khỏe mạnh là dạng vật chất phát sáng, có màu trắng thuần chất, đó cũng chính là bản sắc của “tiên thiên khí tượng”. Nhưng với một cơ thể không khỏe mạnh, cho dù là ít bệnh hay nhiều bệnh, thậm chí là toàn bộ chức năng bị suy yếu thì khí của cơ thể đó, tức là “hậu thiên khí tượng” sẽ có dạng bệnh khí. Trong quá trình bệnh khí xuất phát từ các cơ quan, bộ phận bên trong cơ thể đến kinh mạch, huyệt vị, màu sắc của bệnh khí dần dần bị biến đổi, khi đến được kinh mạch, huyệt vị sẽ biến thành màu tro đục hoặc màu tro sẫm, thậm chí là biến thành màu đen.
Mầu sắc của các loại bệnh khí
Mầu đỏ tươi: Thường xuất hiện dưới dạng các đỏm chấm đỏ. Trên bàn tay, ở bất cứ vị trí nào mà có đốm mầu này đều cho thấy ở bộ phận tương ứng trong cơ thế có bệnh, có hiện tượng đang bị chảy máu (bao gồm chảy máu sinh lý, chảy máu do phẫu thuật, chảy máu do bị thương...)
Điểm màu đỏ tươi này là chỉ màu đỏ tươi của các vết ban bên ngoài những vết châu sa trên bàn tay.
Màu đỏ thâm: Thông thường cho thấy vết thương đã ngậm miệng, máu đã đòng lại, vết thương bắt đầu lành. Do đó, màu sắc tượng trưng cho vết thương cũng chuyển từ màu đỏ tươi sang màu đỏ thẫm.
Màu đỏ tìm: Thường thể hiện máu bị ngưng tụ, mức độ ngưng tụ tương đối nhẹ hoặc mức độ bệnh tương đối nhẹ, hệ thống tuần hoàn máu của người bệnh không tốt cũng có thể thể hiện rằng vết thương sau khi chảy máu đã đông lại. Màu sắc này thường thấy ở mao mạch dưới da.
Màu cà phê đậm: Cho thấy bệnh của bệnh nhân đă khỏi hoặc vết mổ, vết thương đã ngậm miệng, sắp khỏi. Vị trí tương ứng của người bệnh có điểm đen hoặc những vết ban màu cà phê thẫm.
Màu cà phê nhạt: Thường biểu hiện bệnh đã khỏi lâu ngày. Màu sắc này thường xuất hiện tương đối sâu dưới da bàn tay.
Màu xanh: Màu xanh tượng trưng cho gan, chứng tỏ gan bị tụ khí, màu xanh thường thể hiện mức độ của bệnh rất nghiêm trọng. Thồng thường dưới da xuất hiện huyết quản màu xanh và điểm tụ máu.
Màu xanh trắng: Thường biểu hiện của bệnh đau dữ dội do tụ khí hoặc đau do bị lạnh (thường thấy ở người bị bệnh phong thấp). Những người bị cảm lạnh thường thấy màu sắc này ở bên ngoài vị trí "Đại ngư tế'1 trên bàn tay.
Màu xanh tím: Thường thể hiện những loại bệnh mới mắc gần đây hoặc cho thấy bệnh đã khỏi hoặc đang trong giai đoạn phục hồi.
Màu xanh tím thường thấy ở vị trí huyết quản dưới da bàn tay. Chỉ cần nhìn thấy dưới da có huyết quản màu xanh là thể hiện máu trong cơ thể của người bệnh đặc, mao mạch nhỏ, lượng ôxi trong máu quá thấp, mỡ máu không bình thường, axít trong máu quá cao... từ đó ảnh hưởng đến quá trình tuần hoàn máu, lưu thông chậm, dẫn đến chân tay của người bệnh rất lạnh, chóng mặt, máu lên não không đều, lượng máu quay trở lại tĩnh mạch không đủ...
Người mắc bệnh này cần ăn ít những loại thực phẩm có nhiều mỡ, prôtêin, axít, đường, dầu... Bởi vì những thực phẩm này khi vào trong cơ thể rất dễ làm cho axít trong cơ thể (đặc biệt trong máu) tăng cao, làm cho máu đông đặc, khó lưu thông, thậm chí còn gây ra tắc nghẽn động mạch. Do vậy, ở bất kỳ vị trí nào dưới da tay xuất hiện huyết quản màu xanh, màu xanh nhạt, màu xanh đậm, màu xanh tím, màu đỏ tím... eho thấy ở vị trí tương ứng trong cơ thế người bệnh bị tụ máu, máu không lưu thông. Mức độ không lưu thông máu thể hiện qua các màu sắc khác nhau. Màu đỏ cho thấy máu ngưng tụ tương đối nhẹ, màu sắc càng xanh càng tối màu thì mức độ ngưng tụ máu càng nặng.
Nếu huyết quản có màu xanh hoặc màu tím thường cho thấy mức độ ngưng tụ máu tương đốì nghiêm trọng. Ví dụ, máu não lưu thông kém thì các vị trí tương ứng dưới da như khu vực đầu, phía sau đầu, khu vực đốt xương sống, xương cổ đều xuất hiện huyết quản màu xanh hoặc màu tím.
Nếu như dưới da bàn tay xuât hiện nhiều huyết quản màu xanh hoặc màu tím thì thể hiện lượng mờ máu và axít trong máu quá cao. Như vậy lượng ôxi trong máu quá thấp, máu rất dễ bị ngưng tụ, đông đặc, người bệnh rất dễ bị tai biến mạch máu não, tắc động mạch.
Màu đen: Nếu như trên toàn bộ bàn tay (đặc biệt là trên 4 ngón tay trừ ngón cái) đều thấy xuất hiện những vết ban màu đen hoặc màu tro đen thì người bệnh có mỡ máu cao. Chứng tỏ người bệnh ít vận động, các chất độc thải ra trong cơ thể không thoát ra ngoài được mà tích tụ lại trong cơ thể. Do đó, trong người luôn cảm thấy rât mệt mỏi, tinh lực và hoạt động của não bộ không tõt. Tất cả đều do chức nàng trao đổi chất của cơ thể gây ra.
Màu vàng: Những người bị bệnh gan mật, bàn tay thường có màu vàng, đặc biệt là những người bị bệnh vàng da thì càng rõ hơn. Nhưng một số ít trường hợp còn do nguyên nhân di truyền. Người bệnh có nhóm máu kết hợp giữa nhóm máu AB và nhóm máu o ở bố mẹ thông thường da có màu vàng. Nếu không có bệnh mà có nhóm máu ABO thì màu vàng này là bình thường, nhưng những người này về bản chất rất dễ mắc bệnh liên quan đến gan mật và bệnh về máu.
Thông thường màu vàng biểu hiện bệnh lâu ngày, cũng là biểu hiện của bệnh mãn tính. Dấu hiệu màu vàng thể hiện trên da, thoạt nhìn giống như hình con kén, ấn vào cảm thấy cứng, đây là kết quả của hiện tượng khí lạnh tích tụ lâu ngày, khi bệnh khỏi thì dấu hiệu đó cũng tự mất đi. Ví dụ, ở vị trí yết hầu có vết ban màu vàng’ cho thây người này bị bệnh viêm họng mãn tính. Ớ vị trí dạ dày vừa có vết ban màu vàng vừa thô ráp chõ thấy người này bị bệnh viêm dạ dày mãn tính. Nếu đồng thời có vết ban nổi lên chứng tỏ niêm mạc của người bệnh dầy thêm.
Màu tốì (màu xanh xám, màụ tro, màu tím than): Những màu sắc này thường xuất hiện ở vị trí da mỏng, cho thấy khí hư trong cơ thể quá nhiều, khí hư là phản ứng tích tụ của bệnh khí.
Màu tím than: Màu tím than thường thể hiện âm khí trong cơ thể suy giảm, trong người có bệnh, phần lớn là bệnh liên quan đến khí huyết ở các cơ quan chức năng hoặc bệnh viêm nhiễm gây ra.
Màu xanh xám, màu tro: Thường cho thấy sự biến đổi trong máu, đặc biệt thường xuất hiện ở chỗ tương đối sâu dưới da, thể hiện máu cung cấp cho các khí quan của cơ thể không đủ. Đặc điểm này cũng cho thấy người bệnh ít hồng cầu hoặc mao mạch nhỏ, cũng có thể bệnh nhân bị bệnh ngoài da do lượng axít trong máu quá nhiều gây ra.
Màu cà phê đậm: Thường xuất hiện ở vị trí xương đốt cổ, xương sống và mu bàn tay. Thường thể hiện người bệnh bị đau do trúng gió hoặc tắc nghẽn khí huyết.
Sắc tố tích tụ lại (thường thấy là những nếp nhăn và nốt ruồi): Đối với những người bệnh bị mất cân bằng hệ thống nội tiết thì ở những vị trí tương ứng trên cơ thể thường xuất hiện hiện tượng tích tụ sắc tố. Việc xuất hiện hiện tượng tích tụ sắc tố cho thấy thể chất và chức năng của các khí quan ngũ tạng của người bệnh suy giảm. Hiện tượng tích tụ sắc tố xuất hiện ở bất cứ vị trí tương ứng nào trên bàn tay của người bệnh. Trẻ em mới sinh ra thường rất ít nốt ruồi. Cùng với sự già đi của tuổi tác, sức ép đối với chức năng của gan và tim không ngừng gia tăng, chức năng giải độc của cơ thể suy giảm, các nốt ruồi cũng ngày càng nhiều và phát triển ngày càng to.
Khi cơ thể con người khoẻ mạnh thì hệ thống trao đổi chất hoạt động tốt, chức năng giữa các khí quan của cơ thể cân bàng. Do đó, sắc tố cũng phân bố đều tại các vị trí tương ứng dưới da. Chức năng của bộ phận nào của cơ thể suy giảm, bỊ bệnh, khí huyết lưu thống kém thì tại vị trí tương ứng trên bàn tay sẽ xuất hiện hiện tượng tích tụ sắc tố. Do lục phủ ngũ tạng đều có mối liên hệ tương ứng với các vị trí trên cơ thể, nên theo cách nói của Đông y gia truyền, thì tính cách, trí lực, thể lực và tâm lý đều được quyết định bởi chức nàng của lục phủ ngũ tạng. Nói cách khác, chức nảng của lục phủ ngũ tạng mạnh hay yếu đều có thể trực tiếp ảnh hưởng đến trạng thái tính cách, thể lực, trí lực, tâm lý của con người. Do đó việc thông qua một sô nốt ruồi hoặc tình hình phân bố của hiện tượng tích tụ sắc tố để phán đoán trạng thái sức khoẻ của con người là điều có thể, có ý nghĩa khoa học nhất định, hoàn toàn không phải là mê tín dị đoan.
Hiện tượng tích tụ sắc tố có quy luật khoa học nhất định, nó không được chứng minh theo một số phương pháp khoa học phương Tây nào đó mà chỉ có thể tìm ra dựa trên cơ sở lý luận khoa học của Đông y gia truyền. Lý luận này bao gồm toàn bộ các thông tin trên phương diện vi mô và vì mô. Càn cứ vào các thông tỉn này có thể tìm ra mối liên hệ giữa các sự vật. Các sự vật trên thế gian đều liên hệ mật thiết với nhau, không một sự vật hiện tượng nào có thể tồn tại độc lập. Tính liên hệ của các sự vật phải thông qua sự biến đổi tương ứng của các nhân tố mới có thể tìm ra. Do đó, phương pháp nghiên cứu sự vật một cách độc lập của phương Tây cần phải thay đổi, nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhân loại và các sự vật trên trái đất của chúng ta, môi trường bị ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái...
Màu đỏ và trắng đan xen: Thường thế hiện bệnh nhân bị viêm nhiễm sinh mủ do lây nhiễm vi khuẩn. Bệnh cảm cúm gây ra viêm nhiễm hệ hô hấp, ở vị trí tương ứng sẽ xuất hiện những vết ban màu đỏ kết hợp với màu trăng.
Các vết ban đỏ trắng nổi lên không theo quy luật: Cho thấy người bệnh bị viêm nhiễm, chỗ viêm nhiễm thường liên quan đến hệ thống nội tiết như: Viêm phế quản, viêm phổi, sưng tấy do viêm nhiễm hoặc cho thấy người bệnh có nhiều đờm. Nếu như tại vị trí sính dục xuất hiện dấu hiệu này, nếu là nữ thì thắ'hiện khí hư tương đôi nhiều, nếu là nam thì chứng tỏ cơ quan sinh dục bị viêm nhiễm sinh mủ.
Vết ban màu đỏ lẫn với màu trắng nối lên: vết ban này nổi lên ở vị trí sinh dục nữ chứng tỏ người này đang bị viêm cơ tử cung. Lúc đầu bạn sẽ phát hiện ra vết ban này có máu trắng cho thấy bệnh viêm cơ tử cung do hiện tượng ngưng tụ khí gây ra. Sau khi tiến hành điều tra đối với những người bị bệnh ung thư, u bướu, bệnh tim..., phát hiện thấy tính cách của những người này đều giống nhau ở chỗ là hay sốt ruột, rất đễ buồn,phiền, khí huyết thường tích tụ tại tuyến sữa, tử cung, tuyến giáp trạng, tim, đoạn đầu ruột non nối với dạ dày.... Khí tích tụ tại tuyến sữa, làm cho tuyến sữa sưng lên, ở vị trí tương ứng của tuyến sữa trên bàn tay sẽ xuất hiện những vết ban màu trắng. Nếu như khí tích tụ tại tử cung sẽ gầy ra hiện tượng sưng cổ tử cung, tại vị trí tương ứng của tử cung trên bàn tay sẽ xuất hiện các vết ban màu trắng. Nếu khí tích tụ tại tuyến giáp trạng làm cho tuyến giáp trạng bị phù thũng, gây ung thư tuyến giáp trạng, tại vị trí tương ứng của tuyến giáp trạng trên bàn tay sẽ xuất hiện các vết ban màu trắng. Nếu khí tích tụ tại tim sẽ làm cho tim đập mạnh, nhịp tim không đều... tại vị trí tương ứng của tim trên bàn tay sẽ xuất hiện các vết ban màu trắng. Nếu khí tích tụ tại đoạn đầu ruột non nối với dạ dày sẽ làm cho đoạn ruột này bị viêm loét, tại vị trí tương ứng trên bàn tay cũng sẽ xuất hiện các vết ban màu trắng.
ở giai đoạn đầu của các chứng bệnh này, trên vị trí tương ứng của bàn tay thường xuất hiện vết ban màu trăng. Những vết ban trắng này chịu ảnh hưởng từ tính cách của người bệnh. Nếu những vết ban trắng dần dần nổi lên dưới da, màu sắc thâm lại sau khi xoa bóp, da dầy lên, chứng tỏ bệnh tình ngày càng nặng. Nếu tính cách vẫn không thay đồi, sẽ gây trở ngại rất lớn về mặt tàm sinh lý trong quá trình điều trị, thông thường sẽ không có cách nào điều trị khỏi được.
Nếu các vết ban trắng nổi lên ở vị trí tương ứng trên bàn tay và chuyển sang màu cà phê thẫm, chứng tỏ người bệnh bị lở loét hoặc u ác tính. Bất kỳ vị trí tương ứng nào trên bàn tay xuất hiện những dấu hiệu như trên đều cho thấy người bệnh bị mắc bệnh tương ứng với những màu sắc, bệnh tình như trên.
Đông y gia truyền thường chẩn đoán bệnh qua tay và mặt bằng cách quan sát khí huyết, màu sắc và dã tích luỹ được nhiều kinh nghiêm phong phú trong lĩnh vực này. Những kiến thức mang tính quy luật được đúc kết thông qua bệnh khí và bệnh sắc đều có giá trị định hướng thực tiễn, phù hợp với kinh nghiệm thực tiễn của nhiều người và ngày càng phát triển lên một trình độ cao hơn.
Lý luận biện chứng về khí sắc
Trong cơ thể con người mỗi bộ phận đều có màu sắc riêng và đều được thể hiện trên bàn tay, tức là màu sắc tại vị trí tương ứng trên bàn tay của một tạng khí trùng với màu sắc vốn có của tạng khí đó. Màu sắc vốn có của ngũ tạng được xác định như sau: Gan có màu xanh, tim có màu đỏ, tỳ có màu vàng, phổi có màu trắng và thận có màu đen. Nhưng khi ngũ tạng chuyển sang màu sắc khác ví dụ: Gan xanh giống như sợi cỏ (màu xanh pha lẫn với màu đen khô), tỳ có màu vàng xen lẫn với màu đen, tim có màu đỏ thâm, thận có màu đen của than, phổi trắng như màu xương khô cho thấy tinh khí của tạng phủ sẽ khô kiệt, bệnh tình ngày càng nguy kịch.
Nếu như 5 màu đỏ, vàng, trắng, xanh, đen đột nhiên xuất hiện tại vị trí bệnh trên bàn tay, khuôn mặt trắng bạch giống như người trang điểm loè loẹt, màu sắc sặc sỡ, thì nguy hiểm tiềm ẩn đằng sau những dấu hiệu ấy, cho thấy bệnh tình của người bệnh rất nguy kịch, có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Màu xanh tượng trưng cho mùa xuân, gỗ, gió, vị chua, gan, gân; màu đỏ tượng trưng cho mùa hè, lửa, nhiệt, khổ, hanh, tim, máu; màu trắng tượng trưng cho mùa thu, vàng, nóng, cạn, khô, phổi, da, lông; màu vàng tượng trưng cho đất, ướt, ấm, ngọt, tỳ, thịt; màu đen tượng trưng cho mùa đông, nước, lạnh, mặn, thận, xương...
Theo quan niệm của Đông y gia truyền thì "Phong thịnh tất động, nhiệt thịnh tất phù, hàn thịnh tất nổi, ẩm ướt tất bệnh". Màu xanh đen tượng trưng cho sự đau đớn, màu vàng tượng trưng cho nhiệt, màu trắng tượng trưng cho lạnh. Màu xanh xuất hiện ở vị trí của phổi chứng tô phong (phong thấp) đang ở phổi, nếu màu xanh xuất hiện ở vị trí tim cho thấy phong đang ở tim, nếu màu xanh xuất hiện ở vị trí tỳ cho thấy phong đang ở tỳ, nếu màu xanh xuất hiện ở vị trí thận cho thấy phong đang ở thận; nếu màu đỏ xuất hiện ở vị trí của gan thì hoả đang ở gan, gan phát hoả ắt sinh ra nhiệt dễ dẫn đến viêm gan; màu đỏ xuất hiện ở vị trí của phổi, chứng tỏ hoả đang ờ phổi, phổi nhiệt sinh ra viêm nhiễm; màu đỏ xuất hiẹn ở vị trí thận, hoả đang ở thận... Các màu sắc khđc nếu không xuất hiện tại vị trí vốn có của nó, mà xuất hiện ở vị trí của các bộ phận khác trên cơ thể đều là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang bị bệnh.
Nếu trên bàn tay, mặt hoặc tại các vị trí có liên quan đến lục phủ ngũ tạng và các khí quan như não, xương, tuỷ.... xuất hiện màu sắc của bệnh hoặc bệnh khí đều có thể áp dụng nguyên tắc có tính quy luật trên tìm ra nguyên nhân của bệrìh để điều trị. Ví dụ, có thể sử dụng những loại thực phẩm có màu xanh (xanh lục) và có vị chua để bổ thận khí, dùng loại thực phẩm có màu đỏ để bổ khí, dùng những thực phẩm có màu trắng để bổ phế, dùng những thực phẩm có màu vàng và có vị ngọt để bổ tỳ khí, dùng các loại thực phẩm có màu đen (màu tím) và có tính kiềm để bổ thận khí.
IV. TỔNG LUẬN VÊ ĐlỂM Ấn đau ở vị trí bị bệnh
Tất cả những vị trí có dâu hiệu đường vân tay của bệnh tật hoặc xuất hiện những dấu hiệu về khí và sắc đều là khu vực phản xạ của bệnh, khi ta dùng tay ấn nhẹ vào những vị trí đó người bệnh đều có cảm giác bị đau. Bởi vì, bệnh khí đều tụ lại ở đây, cản trở khí huyết lưu thông, đây cũng là nguyên nhân làm cho "tiên thiên khí" và "hậu thiên khí" không lưu thông. "Dũng" có nghĩa là "Dũng đạo" và cũng là huyệt đạo, mạch khí của cơ thể. "Thông" ở đáy có nghĩa là "Lưu thông" tức là huyệt "Dũng đạo" có thể vận hành, khí huyết của cơ thể được vận hành tại các huyệt đạo và kinh lạc của cơ thể, chuyển chất dinh dưỡng thành "Hậu thiên khí" và chuyển thành "Tiên thiên khí" thông qua "Tam âm tam dương kinh" của chân và tay, sau đó phân bô' đến các bộ phận của lục phủ ngũ tạng. "Đau" tức là huyệt "Dũng" có bệnh, "Dũng đạo" không thông, khí không lưu thông được, bị tắc ở một chỗ nào đó, dẫn đến bị đau. Bất kỳ vị trí nào trên cơ thể bị tắc khí, sơ cứng đều gây ra đau đớn.
Thực tiễn chứng minh, cảm giác đau mà người bệnh cảm nhận được cũng giống như cảm giác đau khi ấn tay vào vị trí bị bệnh. Do đó người bênh có thể sử dụng phương pháp tự kiểm tra tìm ra chỗ nào trên cơ thể bị đau. Điều dó cũng có nghĩa mức độ bệnh tật khác nhau thì cảm giác đau khi ấn tay vào vị trí bị bệnh cũng khác nhau.
Ngoài cách thức ấn nhẹ ngón tay vào vị trí bị bệnh, còn có thể ấn tay vào vị trí "Miệng hố" trên bàn tay, khu vực "Lao cung" trong và ngoài bàn tay, cảm nhận được cảm giác đau di chuyến từ vị trí "Miệng hổ" đến vị trí "Lao cung" trên bàn tay, đế nhận biết xem cảm giác đau truyền đến đâu, đầu ngón tay xuất hiện cảm giác như thế nào trong những cảm giác sau: Lạnh buôt, lạnh, ấm, nóng, phù thũng, sung, đau, ngứa, mỏi... và xuất hiện trên ngón tay nào, có thể căn cứ vào sự tương ứng giữa các ngón tay với lục phủ ngũ tạng để chẩn đoán xem mình bị bệnh gì và mức độ bệnh tình đến đâu. Khi xoa bóp trị liệu cũng có thể sử dụng biện pháp trên.
Tất cả nhũng điểm ấn đau thường đều có cảm giác bị cứng. Bctì vì, đây là điểm tích tụ do khí huyết không lưu thông, chất A-xít-u-ríc và những chất độc hại do các khí quan trong cơ thể bài tiết ra tích tụ lậi trong kinh mạch, huyệt đạo, huyết quản, cản trở hệ thống tuần hoàn máu, dẫn đến việc cung cấp chính khí và khí ôxi không đủ.
Do vị trí bệnh, bệnh tình và nguyên nhân gây bệnh khác nhau nên cảm giác đau cũng có sự khác nhau, thể hiện ở chỗ:
Cảm giác đau mỏi, bệnh ở hệ thống thần kinh, tim, máu, hệ thống huyết quản, tim hoạt động quá sức, tâm khí bị hư tổn, huyết hư, biếu hiện mất ngủ hoặc suy nhược thần kinh, thần kinh thực vật hỗn loạn, bệnh liên quan đến mạch máu não, bệnh tim... Khi ấn vào huyệt "Lao cung" khí huyết sẽ lưu thông đến ngón giữa.
Cảm giác đau mỏi, đầy hơi: Do cảm lạnh, bệnh thường thây ở gan, thận, xương cốt, thận khí hư, lưng và vai bị trúng gió, bệnh ở mức độ nhẹ thì khớp vai bị viêm, đau lưng, đau dữ dội hoặc đau thành từng cơn. Khí di chuyển đến ngón trỏ, ngón út, cảm giác đau truyền phản xạ đến mu của ngón trỏ và ngón út, xương cố’ tay, khuỷu tay, vai.
Cảm giác đau tê dại: Phong hàn xuất hiện ở da, bệnh cảm lạnh, bệnh động kinh. Khí di chuyển đến ngón trổ, ngón giữa và ngón út.
Cảm giác tê liệt: Triệu chứng của bệnh phong thấp, bệnh trong người, khí huyết bị tắc, khí huyết từ ẩm lạnh chuyển sang ẩm nóng. Cho thấy người này đang bị bệnh phong thấp hoặc viêm khớp vai. Khí di chuyển đến ngón út, đốt cuôi của ngón giữa và ngón trỏ.
Cảm giác tê liệt: Phong hàn tích tụ lâu ngày, kinh mạch không thông, huyệt đạo đóng lại, tụ máu, khí huyết ứ đọng, phong hàn tích tụ trong tạng phủ, suy nhược cơ thể. Triệu chứng biểu hiện thần kinh tê liệt, thấp khớp chạy khắp người, àn không tiêu, khó tiểu tiện.
Cảm giác đau tê dại, đau thành từng cơn, bệnh phong thấp gây viêm nhiễm các khớp xương.
Cảm giác đau: Khí huyết bị tắc, kinh mạch không thông, ấn nhẹ vào thấy có cảm giác đau.
Cảm giác đau mỏi, trúng gió, một số huyệt đạo đóng lại, ấn nhẹ vào vị trí bị bệnh thấy có cảm giác đau, có cảm giác phản xạ ra bên ngoài.
Cảm giác đau tê liệt như bị đâm, triệu trứng của các bệnh viêm nhiễm như viêm gan, viêm khí quản, viêm họng, lao phổi. Khí di chuyển đến vị trí ngón tay tương ứng, ngón trỏ, đốt thứ hai của ngón đeo nhẫn, đầu ngón tay đau nhức. Đường hô hấp bị viêm nhiễm, khí di chuyển đến ngón đeo nhẫn. Viêm thận, khí di chuyển đến ngón út.
Cảm giác đau như bị đâm: Triệu chứng tương đối nặng, viêm nhiễm siêu vi trùng, bệnh truyền nhiễm, hệ thống miễn dịch suy giảm.
Cảm giác bị đau do lạnh, vết thương hoặc vết mổ cũ thường có cảm giác này. Ví dụ gẫy xương cổ tay, ấn nhẹ vào vị trí xương cổ tay ở phía dưới đường sinh mệnh thấy có cảm giác đau; phẫu thuật cổ tử cung khi ấn nhẹ vào vị trí gò dưới ngón út sẽ có cảm giác đau.
Cảm giác đau như búa bổ là triệu chứng của bệnh viêm nhiễm cấp tính, triệu chứng tương đối nặng, có thể biến chứng thành ung thư, khu vực triệu chứng của bệnh ung thư có những vết ban màu nâu thẫm, nóng, mạch đập nhanh, cảm giác đau dữ dội, ấn nhẹ tay vào vị trí đó người bệnh thấy có cảm giác đau như búa bổ.
Cảm giác đau ê ẩm, triệu chứng của bệnh u lành tính (ung thư lành tính).
Đau âm ỉ, vị trí đau nổi cục, có cảm giác đau âm ỉ cục bộ, dương thịnh, có triệu chứng viêm nhiễm, đau bên trong cơ thể, tương đối nặng.
Cảm giác đau do áp lực, cảm giác đau như bị áp lực đề nén từ ngoài vào trong, dương thịnh, nóng trong, cơ năng sinh lý có vấn đề, khi bệnh tình nặng hơn thì cảm giác đau càng nặng nề hơn.
Đau do đầy hơi, biểu hiện nóng trong, dương khí quá thịnh, triệu chứng huyết áp cao, chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, nhức mỏi mảt, mặt đỏ, trướng bụng... Khí di chuyển đến ngón giữa.
Cảm giác đau ôn tính, đây là triệu chứng của bệnh liên quan đến đường tiêu hoá như*. Viêm dạ dày, loét dạ dày, viêm đường ruột, đầy bụng... Khí di chuyển đến ngón cái, huyệt "Trung quản".
Cảm giác đau nóng ran, dương thịnh âm suy (cơ năng sinh lý có vấn đề), nóng trong, các loại bệnh viêm nhiễm, huyết áp cao, trúng gió, khó tiểu tiện, viêm túi mật... Bệnh do nóng trong, khô hanh, ẩm ướt, nhiệt gây ra.
Cảm giác đau do lạnh, các loại bệnh liên quan đến phong hàn, âm thịnh, khí hư, nguyên khí tổn thương, khí cơ bất lợi, trung khí không đều, tim và thận bị tổn thương, huyết hàn... Dấu hiệu thể hiện chân tay giá lạnh, đổ mồ hôi trộm, suy nhược thần kinh, thiếu chất dinh dư&ng, cơ thể suy nhược.... Khí di chuyển đến ngón giữa, huyệt "Dũng tuyền" ngón út và phần lớn là di chuyển đến ngón cái.
Cảm giác đau nặng, bệnh này thường do khí huyết bị tắc nghẽn gây ra, hoặc bệnh nhàn bị phù thũng hoặc bị u bướu.
Cảm giác đau lạnh, tỳ vị suy nhược.
V. MỐI QUAN HÊ GIỮA DẤU hiệu vân tay,
KHÍ SẮC VÀ CẢM GIÁC ĐAU ở VỊ TRÍ BỆNH
Chúng ta coi dấu hiệu vân tay là đối tượng quan sát, những dấu hiệu đó xuất hiện ở hai phần âm và dương của bàn tay (lòng bàn tay và mu bàn tay), xuất hiện tại bộ phận tương ứng với các khí quan của cơ thể; khí sắc là sự bổ sung cho dấu hiệu vân tay, là một phương thức biểu hiện khác của bệnh. Cảm giác đau ở vị trí bị bệnh và vị trí phản xạ có thể chứng minh dấu hiệu của vân tay, mức độ bệnh tình được thể hiện thông qua khí sắc và kết quả chẩn đoán của hai lần trước có chuẩn xác hay không. Tổng hợp ba phương pháp biện chứng trên càng chứng minh cho tính chính xác của lý luận này. Đây là phương pháp cơ bản trong xem tay chẩn đoán bệnh và cũng là phương pháp cơ bản để giải mã vận mệnh của con người.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
-
MẬT MÃ SINH MỆNH CỦA 5 NHÓM NGƯỜI VÀ 3 TẠNG NGƯỜI 5 nhóm người gồm: Nhóm người hành Kim, nhóm người hành Mộc, nhóm người hành Thủy, nhóm ngư...
-
Đường hôn nhân (đường tình duyên) Đường hôn nhân, còn gọi là đường tình duyên, đường kết hợp, xuất hiện ở cung Khôn mép bàn tay trên đường t...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét