Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Ý NGHĨA CỦA MẬT MÃ SINH MỆNH



Ý NGHĨA CỦA
MẬT MÃ SINH MỆNH

Mỗi hình thức của mật mã sinh mệnh đều thể hiện một ý nghĩa sinh mệnh, truyền đạt một thông tin về sinh mệnh con người. Đây là tính quy định của bản thân mật mã sự sống, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Nhưng trong khi chúng ta chưa nhận ra điều đó thì dường như mật mã sự sống không có ý nghĩa gì. Chỉ đến khi nhận ra, chúng ta mới có thể cảm nhận được nó một cách sâu sắc. Do đó, sau nhiều lần nghiên cứư giải mã mật mã sinh mệnh, chúng ta có thể phát hiện ra hoặc rút ra một quy luật, một sự chỉ dẫn có nội dung đặc thù. Khi chúng ta công nhận tính quy định vốn có của mật mã sự sống thì đó chính là ý nghĩa được thể hiện trong mật mã sinh mệnh. Trước tiên chúng ta phải hiểu, nhận thúc, nắm chắc hệ thống định tính này thì mới có thể phân biệt, giải mã được ý nghĩa hàm chứa trong nó.

ĐỊNH TÍNH THÔNG TIN CỦA
MẬT MÃ SINH MỆNH TRÊN BÀN TAY

Nội dung xem tay bao gồm xem hình dáng của bàn tay, hình dáng ngón tay, hoa tay, vân tay, màu sắc của tay, hình dáng và màu sắc của móng tay, huyết quản ở tay, cổ tay, hình dáng và màu sắc của các gò trên bàn tay. Chúng đều là dấu hiệu thông tin quan trọng về sinh mệnh. Xem tay có tính ứng dụng lớn hơn xem mặt, nó không bị hạn chế bởi sắc iố da, tính chuẩn xác cao hơn. Vân tay của những người khác nhau đều có quy luật chung, đây là kinh nghiệm được đúc kết sau nhiều năm nghiên cúư và kiểm nghiệm thực tế của các chuyên gia nhân tướng học sau khi xem tay chẩn đoán bệnh cho hàng triệu người. Do đó, mật mã sinh mệnh thể hiện trên bàn tay là nội dung chủ yếu của cuốn sách này. Định tính của mật mã sinh mệnh được giới thiệu trong cuốn sách này là tài sản văn hoá hội tụ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của các bậc tiền bối từ xưa tới nay, rất đáng để chúng ta nghiên cứu.

Bất kỳ một hình thái nào trên bàn tay đều là mật mã sinh mệnh phân bố trên cơ thể. Nội tạng, kinh lạc và thần kinh cua cơ thể con người đều liên hệ mật thiết với nhau. Bàn tay và những thông tin thể hiện trên bàn tay đều có quan hệ vớỉ nhau. Bàn tay được ví như một "Trung tâm tình báo” của cơ thể, bất kỳ sự khác thường nào của nội tạng đều được thể hiện khá rõ nét trên bàn tay. Do đó, sự phản ánh trạng thái cuộc đời và trạng thái sút khoẻ trên bàn tay tỷ lệ thuận với nhau.

Trên thực tế, bất kỳ loại bệnh tật nào đều ít nhiều liên quan đến nội tạng. Do vậy, khi mắc một căn bệnh nào đó, đều xuất hiện dấu hiệu tương ứng với nó. Lúc đầu các dấu hiệu này tương đối mờ nhạt nhưng khi bệnh nặng hơn thì các dấu hiệu này sẽ hiện rõ hơn và phát ra tín hiệu nguy hiểm. Trên bàn tay của chúng ta (bao gồm cả mu bàn tay) có 6 đường kinh lạc vận hành, 6 đường kinh lạc này có quan hệ mật thiết với các khí quan trong nội tạng, do vậy khi nội tạng có vấn đề dị thường, nó sẽ thể hiện thông qua huyệt đạo, kinh lạc, vị trí huyệt đạo của cơ thể, những dấu hiệu khác thường này được gọi là "Phản sinh mệnh tử', nó phần ánh tín hiệu cầu cúư của nội tạng hoặc phát ra tín hiệu "đèn đỏ" cảnh báo nguy hiểm đối vói cơ thể con người, nhắc nhở con người cần đặc biệt chú ý đề phòng. Quan sát sự biến đổi của dấu hiệu mật mã sinh mệnh trên vân tay, cũng có thể thấy được trạng thái của nội tạng và trạng thái hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết đặc trưng định tính quy luật về sự biến đổi của dấu hiệu sinh mệnh trên bàn tay, căn cứ vào đó để phán đoán dấu hiệu nào thể hiện ý nghĩa gì, thích hợp với hệ thống chức năng nào, từ đó dự đoán được bệnh tật trong người. Độ tín cậy của nó được đúc rút từ lý luận, kinh nghiệm của giới y học cổ truyền từ hàng nghìn năm nay. Chỉ cần chúng ta hiểu rõ và mạnh dạn thử nghiệm, dù là ai, lúc nào và ở đâu chúng ta đều thấy rất hiệu quả.

Định tính mật mã sinh mệnh trên lòng bàn tay

Bàn tay được chia thành hai phần âm và dương. Lưng người là phần dương, do đó "Đốc mạch" là mạch dương; phía trước ngực và bụng được coi là phần âm nên "Nhiệm mạch" là mạch âm. Tlrơng tự, mu bàn tay là phần dương, lòng bàn tay là phần âm. Hình định tính thông tin mật mã sinh mệnh trên lòng bàn tay, chủ yếu miêu tả mối quan hệ giữa điểm phản xạ của vị trí huyệt kinh lạc và điểm phản xạ của thần kinh với nội tạng, do đó bệnh tật của lục phủ ngũ tạng cũng được thể hiện trên lòng bàn tay. Điểm phản xạ trong hình này không chỉ là điểm định hình thông tin của mật mã sinh mệnh mà có thể làm huyệt đạo để xoa bóp trị liệu.


Định tính mật mã sinh mệnh trên mu bàn tay

Hình mu bàn tay là biểu đồ vị trí huyệt đạo chủ yếu thế hiện điểm phản xạ có liên quan đến bệnh tật ở xương cốt, khớp, ngũ quan và đầu của cơ thể. Do phần lưng và tứ chi của cơ thế đều thuộc mệnh dương, sự biến đồi khác thường của các vị trí tương ứng trên mu bàn tay, trên vị trí huyệt đạo tương ứng sẽ xuất hiện dấu hiệu về điểm bị đau (trong lòng bàn tay cũng như vậy), quan sát dấu hiệu của bệnh có thể thấy bộ phận nào bị bệnh, ân nhẹ tay vào đó thấy có cảm giác đau, như vậy bạn có thể tự mình trị liệu.

Định tính mật mã sính mệnh trên các gò bàn tay.

Các gò trong lòng bàn tay vừa được đặt tên theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, vừa được đặt tên theo các quẻ trong Bát quái, do các yếu tô được phản ánh bởi các gò trong lòng bàn tay có liên quan đến các yếu tố được phản ánh bởi ngũ hành nên hai tên gọi này được hợp thành một.

Gò Kim tinh: cấn vị, thuộc Dương thổ, chủ tỳ vị, chức năng của hệ thống tiêu hoá, hô hấp và sức sống. Nếu phía dưới gò Kim tinh xuất hiện vết ban màu xanh đen hặc nổi lên đường gân xanh thì có nghĩa là chức năng tiêu hoá kém, bị bệnh dạ dày.

Gò Mộc tinh: Thuộc mệnh Âm thổ, chủ trị chức năng hệ thông của dạ dày, gan, mật. Nếu gò này bị lõm xuống, mềm nhũn, phù thũng và đường vân trên đó sắp xếp lộn xộn có nghĩa là bệnh nhân đang bị bệnh dạ dày hoặc gan mật.

Gò Thuỷ tinh: Thuộc mệnh Dương thổ, chủ trị chức năng của cơ quan sinh dục và hệ thống hô hấp.

Gò Hoả tinh: Gò Hoả tinh thứ nhất thuộc mệnh Âm mộc, chủ trị chức năng hệ sinh dục, thận hoặc hệ tiết niệu. Gò Hoả tinh thứ hai thuộc mệnh Âm kim, chủ trị chức năng của thận và đường hô hấp. Bình nguyên "Hoả tinh" vị trí "Minh đường" đều thuộc mệnh Quân hoả trong lòng bàn tay, chủ trị chức năng của tim, não, trung khu thần kinh, hệ thống tuần hoàn máu. Vị trí "Minh đường" có màu xanh chứng tỏ những bộ phận trên của cơ thể sắp bị bệnh. Vị trí "Minh đường" lạnh ngắt, màu sác của bàn tay tái nhợt, tâm hoả không đủ, tỳ thận dương suy, chức nàng của hệ thống tuần hoàn máu suy giám, chức nàng vận hành của tỳ thận và hệ thống nội tiết suy giảm. Tâm hoả thịnh, dương thịnh, mặt lưỡi có màu vàng, tay lạnh, mặt tái nhợt, ù tai. Tâm hoả suy, dương suy, lười trắng bạch, máu hàn, tử cung hàn, rất khó thụ thai.

Gò Thổ tinh: Thuộc mệnh Quân hoả, chủ trị tim, hệ thông tuần hoàn máu. Trên gò Thổ tinh có "Tinh vân" người bệnh rất dễ bị cao huyết áp, ruột non hấp thụ kém.

Gò Thái dương: Thuộc Itiệnh Tương hoả, chủ trị hệ thông thần kinh, khí quan cảm giác, khí quan vận động. Trên gò Thái dương có đường vân lộn xộn, vân to, người bệnh bị suy nhược thần kinh, đau mắt. Ngoài ra, gò Thái dương còn chủ trị chức năng của phổi và ruột già.

Gò Địa: Thuộc mệnh Thuỷ, chủ trị chức năng của thận, tiết niệu, hệ thống sinh đục và chức năng nội tiết. Những phụ nữ có đường vân nhánh của đường sinh mệnh cắt ngang qua khu gò Địa thì rất khó thụ thai, không rụng trứng. Điều này còn đúng với những người đường tình dục lộn xộn, ngón út ngắn và nhỏ, ngón cái ngắn, móng tay thô, rộng, hình dáng thấp.... Những người có ba đường gân xanh kéo dài từ cổ tay đến vị trí gò Địa trong lòng bàn tay cũng rất dễ mắc bệnh như trên.

Định tính mật mã sinh mệnh thể hiện qua hình dàng bàn tay và ngón tay.

Bàn tay có 7 hình dáng: Hình vuông, hình nón, hình chiếc thìa, hình đốt tre, hình thon dài (đầu ngón tay nhọn), hình nguyên thuỷ, hình hỗn hợp. Bàn tay có hình vuông, hình chiếc thìa, hình nguyên thuỷ, hình hỗn hợp thuộc tuýp người mạnh mẽ, giỏi giang, quyết đoán, thể hiện đây là người có tinh thần phóng khoáng, thích mạo hiểm, thích hợp với các lĩnh vực chính trị, kinh doanh, quản lý, kỹ thuật, có khả nàng chịu khổ, nhẫn nại, tinh thần khí thế, luôn sống trong bận rộn, lấy công việc làm vui, biết lo toan cho gia đình, cơ thể chắc nịch, cơ bắp to khoẻ.

Người có bàn tay hình nón, hình đốt tre, hình thon dài, thuộc tuýp người có khả nàng thiên về vân hoá nghệ thuật, thích nghiên cứu, linh cảm, dường trí tuệ, đường tình cảm, vòng "Kim tinh" , đường "Thái dương" trong lòng bàn tay rất phát triển, nhạy cảm với cái đẹp, trực giác tốt, ý tưởng siêu phàm, tình cảm phong phú uỷ mị, suy nghĩ chín chắn, triết lý sâu sa, lãng mạn, mơ mộng, cố chấp, sống thiên về tinh thần, thường có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, học thuật, giáo dục, nghiên cứư khoa học kỹ thuật...

Màu sắc của tay có các màu phấn hồng, kỵ màu trắng, màu xanh, màu tím, màu nâu, thâm tím. Bàn tay có màu trắng dấu hiệu của bệnh thiếu máu, phong thấp, bàn tay có màu đỏ, dương khí ở gan
thận quá thịnh dễ bị huyết áp cao, bàn tay màu tím là dấu hiệu của bệnh liên quan đến huyết quản của tim, màu nâu đen là dấu hiệu của bệnh ác tính.

Theo quan niệm của triết học phương Đông, con người luôn gắn với ngũ hành: Kim, mộc, thuý, hoả, thổ, bàn tay cũng có ngũ hành: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Trong mỗi một hành có 4 "hình", tổng cộng có 25 hình:


Hình 10-A: Mật mã sinh mệnh thể hiện qua hình dạng bàn tay

Tay hình Mộc: bàn tay hình Mộc có ngón tay gầy, vân tay nhiều, đốt ngón tay rất rõ, đường tình cảm và đường trí tuệ tương đôi phát triển, đường tình cảm thường rất dài, kéo dài tới vị trí gò Mộc tinh và vị trí giao nhau giữa ngón trỏ và ngón giữa, hầu hết là vân tay hình lông vũ hướng xuống dưới. Đường trí tuệ hơi nghiêng, cong, nửa trên của đường trí tuệ có nhiều đường vân nhánh hướng lên trên, điều chỉnh lý trí và suy nghĩ của người này. Hệ hô hấp và hệ tiêu hoá không tôt, nguyên nhân là do lao lực.

Tay hình Hoả: Ngón tay thường ngắn và nhọn, khớp ngón tay thô, cơ bắp và gân cốt nổi lên, nhưng tương đối tròn, phần thịt trong lòng bàn tay đầy đặn. Đường sinh mệnh tương đối dài, thường có hai đường sinh mệnh, tinh lực dồi dào, biết tự diều chỉnh mình. Đường sinh mệnh thường thiên về phía "Miệng Hổ". Thao tác trong công việc rất nhanh, nhu cầu tình dục cao. Đường sinh mệnh và đường trí tuệ tương đối đơn nhất, cho thấy người này làm việc gì cũng tập trung cao dộ, đường trí tuệ thẳng cho thấy người này tính tình cương trực, dám nói dám làm, những người có đường trí tuệ cong thường phù hợp với lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Thường có linh cảm đặc biệt, thường có những suy nghĩ bay bổng, rất dễ bị viêm nhiễm đoạn đầu ruột non nối với dạ dày, nguyên nhân là do quá mệt mỏi.

Tay hình Thố: Bàn tay hình Thổ thường dầy, ngón tay ngắn, thịt chắc, xương cứng hoặc thịt chắc dầy nhưng không nổi gân cốt. Phần thịt trên ngón cái của tay hình Thổ rất phát triển, cao, dầy, khả năng tình dục mạnh. Đường sinh mệnh rõ nét, nhưng đựờng trí tuệ thường rất ngán, thẵng. Người có bàn tay hình Thổ nguyên thuỷ, thể lực tốt nhưng trí tuệ kém. Ngoài ra, người có bàn tay Thổ hình cái thìa và tay hình nón thường thích hành động, quyết đoán, giỏi giang, linh hoạt sáng tạo, tương đô'i ổn định, thích mạo hiểm, coi trọng cuộc sống vật chất, tương đốì vô tâm trong chuyện tình cảm.

Tay hình Kim: Bàn tay hình Kim có hình dáng tròn và dầy, đốt ngón tay thô ráp ở trên và mềm mại nhỏ nhắn ở phía dưới, tổng thể ngón tay mềm mại khéo léo và dài, móng tay dài, màu sắc của bàn tay tươi sáng, cảm giác bàn tay mềm mại, đường vận mệnh nhó và nét, đường trí tuệ rất cong, kéo dài đến vị trí gò Nguyệt, đường tình cảm thô, dài, có đường vân hình lông vũ, có vòng "Kim tinh", đường tình cảm có nhánh, linh cảm tốt, tay lạnh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh, thường là trai tài gái sắc. Hay mơ mộng, khả năng hành động thực tế kém, coi trọng đời sống tinh thần, nếu ngón tay ngắn, thô ráp thì tương tự như tay hình Thuỷ, tình cảm phong phú, gò Nguyệt phất triển.

Hình 10-B: Mật mã sinh mệnh thể hiện qua hình dạng bàn tay (tiếp)



Hình 10-C: Mật mã sinh mệnh thể hiện qua hình dạng bàn tay (tiếp)

Tay hình Thuỷ: Bàn tay hình Thuỷ có nhiều thịt, mềm mại, đôt ngón tay không thô ráp, ngón tay ngắn và tròn, màu sắc xanh đen. Toàn bộ bàn tay có hình vuông, trên bụng ngón tay có nhiều đường vân ngang. Phần thịt của ngón cái và gò Thuỷ tinh phát triển, khả năng tình dục mạnh. Sống thực tế, tính toán, tình cảm phong phú, rất dê xảy ra khúc mắc trong chuyên tình cảm.

Định tính mật mã sính mệnh thể hiện qua hình dáng và màu sắc của móng tay

Móng tay tiêu chuẩn: Phía dưới móng tay của người khoẻ mạnh thường có dấu hiệu hình mặt trăng màu trắng. Nếu 5 đầu ngón tay đều có dâu hiệu hình mặt trăng thì sức khoẻ của người đó rất tốt. Trên móng tay của ngón cái có hình mặt trăng, trên móng tay của các ngón còn lại không có, không có nghĩa là người đó không khoẻ mạnh. Ngược lại, trên móng tay của ngón cái không có dâu hiệu hình mặt trăng thì cần phải chú ý. Trên móng tay khồng có dấu hiệu hình mặt trăng là không tốt, nhưng nếu dấu hiệu hình mặt trăng to quá cũng không tốt, bởi vì đây là dấu hiệu của bệnh tật liên quan đến tím hoặc tỳ vị. Tốt nhất là dấu hiệu hình mặt trăng trên móng tay chỉ chiêm 1/5 diện tích của móng tay. Độ dài tiêu chuẩn của móng tay trong hình 11 là 1/2 khoảng cách tính từ đốt thứ nhất đến đầu ngón tay. Những người có móng tay này, nếu hình dáng và màu sắc của móng tay tót thì có thể đoán biết được sức khoẻ của họ và thể hiện họ là người tràn đầy sức sống.

Đường vân ngang và đường vân dọc của móng tay: Bề mặt móng tay bằng phẳng nhân bóng là biểu hiện của sức khoẻ. Nhưng trên móng tay của một sô” người xuất hiện nhiều đường vân ngang gồ ghề, điều này cho thấy chức năng của tạng phủ tương ứng có vân đề, suy giầm hoặc hoạt động kém, đã bị bệnh hoặc bệnh tiềm ẩn sắp phát tác. Đường vân ngang kéo dài về phía đầu ngón tay cùng với sự phát triển của móng tay. Thông thường, đối với những người trẻ tuổi sức sống mãnh liệt, thời gian móng tay phát t 'iển từ khi sinh ra đến đầu ngón tay là 7 tháng, có nghĩa là 7 tháng đổi móng một lần, đối với người già thì khoảng thời gian đó là 10 tháng, do đó chủng ta có thế căn cứ vào đường vân ngang trên móng tay đề nhận biết thời gian mắc bệnh (Hình 11-3,4).

Một số người trên móng tay xuất hiện những đường vân dọc gồ ghề, đây cũng là biểu hiện bất thường của cơ thể. Những người này tinh thần không thoải mái, thường xuyên mệt mỏi, thường mắc các bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh, hệ thống máu não, trúng độc... (Hình 11-3,4).
Những vết lõm trên móng tay: Từ những vết lõm trên móng tay có thể thấy người này vừa bị bệnh không nhẹ cách đây một vài ngày hoặc bị sốc về tinh thần dẫn đến mất cân bằng về dinh dưỡng, các khí quan nội tạng tương ứng bị viêm nhiễm... (Hình 11-6,7). Đối với những người có nhiều vết lõm trên móng tay thường bị nhiễm khuẩn đường ruột hoặc chức năng của đường ruột suy giảm, nếu vết lõm xuất hiện trên móng tay của ngón cái, thường tinh thần không bình thường, nếu xuất hiện ở ngón trỏ, người đó rất dễ mắc bệnh ngoài da, nếu vết lõm xuất hiện ở móng tay của ngón giữa, thường cơ bắp không có lực; nếu xuất hiện trên móng tay của ngón đeo nhẫn người này rất dễ bị đau mắt, viêm đường hồ hâp, khí quản; nếu xuất hiện trên móng tay của ngón út thường mắc các bệnh viêm họng, đau dây thần kinh hoặc bệnh liên quan đến mật (Hình 11-9).

Móng tay bị lật: Móng tay mọc lật lên trên, tức là móng tay bị lật lên trên phía mu bàn tay, chính giữa của móng tay bị lõm xuống là dấu hiệu của bệnh tim, hiện tượng này thường thấy ở những người bị bệnh liên quan đến tuỷ sông hoặc bị trúng độc...(Hình 11 - 5).

Móng tay thon nhỏ như hình 11-10: Móng tay thon nhỏ có hình chữ nhật, trên móng tay nổi lên những vết hình tròn cho thấy chức năng thận của người này suy giảm, dễ mắc các bệnh về đường sinh đục và hệ thống tiết niệu.

Móng tay rất ngắn, như hình ri-17: Những ngươi phụ nữ có móng tay rất ngắn có hình tứ giác, thường hay mắc các bệnh phụ khoa ảnh hưởng đến chức năng sinh dục.

Móng tay hình tròn như hình 11-11,12: Những ngươi có móng tay hình tròn bề mặt phẳng (như hình 11-12) thường mắc những bệnh liên quan đến tỳ vị. Những ngươi có móng tay tròn, bề mặt móng tay cũng có hình tròn chứng tỏ cơ thể bị suy nhược (Hình 11-11).

Móng tay dài, như hình (11-15,16): Những người có móng tay dài, hình chữ nhật hoặc hình bầu dục phổi bị suy nhược, dễ mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, khí quản. Đồng thơi rất dễ bị cảm cúm, sức đề kháng kém (Hình 26 trang 10).

Móng tay nhọn và có nhiều vết khuyết như hình 11-14: Những ngươi có móng tay nhọn và có nhiều vết khuyết trong cơ thể thương có ký sinh trùng (Hình 29 trang 10).

Móng tay hình tứ giác như hình 11-13: Những người có móng tay ngắn và hình tứ giác thường bị bệnh liên quan đến tim. Nếu móng tay có màu xanh, thì chứng tỏ người này bị bệnh về thần kinh tim và huyết quản của tim, nêu màu sắc này chuyển thành màu xanh thẫm hoặc màu tím chứng tỏ bệnh tim đã trở lên trầm trọng hơn.

Móng tay hình tam giác, như hình 11-18,19: Người có móng tay hình tam giác (như hình 11-19) rất dễ bị viêm đường ruột, viêm họng... Người có móng tay hình tam giác ngược với hình tam giác nói trên (như hình 11-18) rất dễ mắc bệnh tiểu đường và viêm phổi... (Hình 19 trang 9).
Dấu hiệu hình rẻ quạt (hình tàm giác ngược) xuất hiện trên ngón tay hình chiếc dùi cho thấy người này thường mắc các bệnh về não, tim, hệ thống tuần hoàn máu hoặc các bệnh liên quan đến nguyên nhân trúng gió hoặc tuỷ sông... Móng tay trắng thâm hoặc có màu vàng thẫm cho thấy người này đang bị một trong các bệnh kể trên.

Mặt dưới móng tay lõm vào trong như hình 11-20: Những người có phần chính giữa móng tay nổi lên, mặt dưới của móng tay- lõm vào trong dễ bị bệnh lao. Móng tay rộng và ngắn (chiều rộng lớn hơn chiều dài, tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều dài là 5:7) dù là nam hay nữ đều có thế’ mắc bệnh vô sinh. Móng tay nhỏ, móng tay ngắn, móng tay rộng có màu đỏ luôn là dấu hiệu của các loại bệnh như: cao huyết áp, xuất huyết não, tụ máu não, sơ cứng động mạch, đặc biệt là những người có móng tay nhỏ rất dễ mắc bệnh tim. Những người móng tay quá to có đường vân dọc và ngón tay thon nhỏ đễ mắc bệnh về hệ thống hô hấp. Ngón tay cái là biểu hiện của sức khoẻ, sau khi bị thương hoặc phẫu thuật trên móng tay của ngón cái thường xuất hiện những đường vân ngang. Móng tay có màu hồng chứng tỏ sức khoẻ tốt, móng tay có màu trắng, vàng, xanh, tím, xanh lam, đen là dấu hiệu không tốt đối với sức khoẻ.
* Chú ý
Móng tay của những người khoẻ mạnh thường có màu phấn hồng. Ân nhẹ vào móng tay, màu phấn hồng đó chuyển sang màu trắng sau dó nhanh chóng hồng trở lại.

Móng tay màu trắng bạch không có màu đỏ của máu là dấu hiệu của bệnh thiếu máu, máu hàn, khí huyết hư tổn, huyết áp thấp...

Móng tay xanh tím chứng tỏ hệ thống cung cấp máu không đủ, máu thiếu ôxi, sơ cứng động mạch, mỡ máu cao, nếu trên móng tay xuất hiện các nếp nhăn thì đây là dấu hiệủ của bệnh tim hoặc bệnh huyết áp cao...

Những người sắp qua đời hoặc những người đang tiềm ẩn bệnh nặng trong người thì móng tay dần dần chuyển từ màu phấn hồng sang màu đen, phát triển lên phía trên, tạo thành đường thẳng, nguy hiếm đến tính mạng.

Móng tay màu xanh là dấu hiệu của bệnh trúng gió, tụ máu, màu xanh đen và tạo thành dường thẳng cho thấy bệnh tình nguy kịch.

Móng tay màu xanh lam là dâu hiệu của hiện tượng thiếu ôxi, tụ máu hoặc nhồi máu cơ tim, hoặc là triệu chứng của các loại bệnh ác tính.

Móng tay có màu vàng là dấu hiệu của bệnh vàng da, viêm gan B, viêm họng... đồng thời thể hiện trạng thái mãn tính của bệnh, đặc biệt là khi dấu hiệu này xuất hiện trên móng tay của ngón cái cho thấy trạng thái sức khoẻ của toàn bộ cơ thể tương đôi kém.

Móng tay có vết ban màu trắng cho thấy cơ thể thiếu can xi, thiếu Si-lic hoặc có ký sinh trùng. Hiện tượng trúng độc do thuốc hoặc do chất Ni-cô-tin đều xuất hiện vết ban trắng trên móng tay. Móng tay có vết ban trắng chứng tỏ người này thần kinh không ổn định hay mệt mỏi hoặc bí đại tiện mãn tính. Đặc biệt vết ban trắng xuất hiện trên móng tay của ngón giữa, cho thấy xương sống thiếu can xi, xương cốt giòn dễ bị đau lưng, đau cột sống hoặc bị gẫy xương, rất khó chữa trị và phục hồi, do đó cần phải đặc biệt chú ý quan sát dấu hiệu này (Hình 29 trang 10).

Định tính mật mã trên đường sinh mệnh

Đường sinh mệnh hay còn gọi là đường "Đại ngư tế", thường nối giữa đoạn dưới của ngón trỏ với gốc của ngón cái, có thể hướng lên trên hoặc hướng xuống dưới, chạy dọc theo từ phía dưới đốt thứ ba đến vị trí gò Hoả tinh, gò Kim tinh của ngón cái. Tất cả những người có đường sinh mệnh thô, gò Kim tinh của ngón cái đầy đặn, ngón cái cũng rất thô to và cứng chứng tỏ người này rất khoẻ mạnh và có một sức sống mãnh liệt.

Ý nghĩa của đường sinh mệnh:

Thể hiện trạng thái sức khoẻ của một đời người (người khoẻ mạnh thường có đường sinh mệnh thô, sâu, hồng hào, sáng sủa, gọn gàng và thẳng).

Thể hiện tuổi thọ (Đường sinh mệnh càng dài thì tuổi thọ càng cao).

Phẫu thuật bất cứ lúc nào (đường phẫu thuật cắt ngang qua đường sinh mệnh thể hiện vị trí phẫu thuật và thời gian phẫu thuật)

Trong một đời người có hay không nguy cơ tiềm ẩn, bệnh tật nghiêm trọng và những rủi ro bất ngờ? (Thể hiện thông qua dấu hiệu bệnh ác tính trên đường sinh mệnh).

Mức độ sung mân của tinh lực (có hay không nhiều đường sinh mệnh).

Thay thế cho đường vận mệnh (khi trong lòng bàn tay không có đường vận mệnh).

Đường sinh mệnh thô, sâu, độ nét cao (thể hiện gò Kim tinh phát triển), dài, đoạn cuối đường sinh mệnh tự nhiên nhỏ lại và biến mất, chứng tỏ cơ thể rất khoẻ mạnh, tinh lực dồi dào, rất ít khi bị bệnh, thọ lâu, tử vong một cách binh thường. Nếu ngón cái thô thì càng có ý nghĩa tích cực hơn (Hình 12-7).

Có hai hoặc nhiều hơn hai đường sinh mệnh (hai đường sinh mệnh hoặc nhiều đường sinh mệnh) cho thây người này có sức sống mãnh liệt, đặc biệt khi bị bệnh, sức đề kháng và sức chịu đựng tốt, có khả nãng tự khỏi bệnh, trường thọ (Hình 12-8).

Đường sinh mệnh chính vừa bị gián đoạn vừa liên tục, ở vị trí gián đoạn có dấu hiệu của bệnh tật; nếu như ở một hoặc hai bên của đườrig sinh mệnh chính có các dường sinh mệnh phụ và song song với đường sinh mệnh chính cho thấy người này có thể vượt qua nhũng lúc khó khăn nhất, nhanh khỏi bệnh và sống lâu (Hình 12-9).

Xuất phát điểm của đường sinh mệnh nghiêng về phía ngón cái, đường sinh mệnh nhỏ và nông, độ sắc nét không cao (gò Kim tinh nhỏ và mềm) cho thâỳ cơ thể yếu hay bị bệnh, mệt mỏi, sống không thọ, nhưng nếu chú ý diều chỉnh thì cũng có thể sông lâu (Hình 12 - 10).

Đường sinh mệnh có hình dây xích hoặc là một đường vân đứt đoạn chứng tỏ người này tinh lực không sung mãn, nhiều bệnh, thiếu sức sống, dấu hiệu bệnh tật xuất hiện trên đường sinh mệnh cho thấy sức đề kháng của cơ thể kém, hay bị ốm đột xuất (Hình 12-11).

Phần giao nhau giữa đường sinh mệnh và đường trí tuệ có
hình dây xích chứng tỏ chức năng của hệ thống hô hấp (mũi, họng, khí quản, phổi..,) yếu, dễ bị bệnh. Trên gò Nguyệt có các dấu hiệu hình dấu cộng, dấu trừ và dấu nhân, đường vân nhánh sắp xếp lộn xộn, gò Nguyệt lõm xuổng cho- thấy chức năng của hệ thông hô hấp càng suy yếu, rất dễ cảm cúm và mệt mỏi. Điểm khởi đầu của đường sinh mệnh đứt đoạn, móng tay của ngón trỏ có hình cái thìa cho thây người này đang bị bệnh lao phổi, thậm chí là ung thư phổi, sau khi điều trị khỏi, trên lòng bàn tay có thể sẽ xuất hiện một đường vân lớn (Hình 12 - 12).



Điểm khởi đầu của đường sinh mệnh có hình lông vũ và có màu hơi đen hoặc màu nâu, gò Mộc tinh có màu đen thâm, đoạn trên (phía dưới ngón trỏ) và đoạn giữa (phía dưới ngón giữa) của đường sinh mệnh có đường vân to, đoạn cuối của đường sinh mệnh có đường vân hình lông vũ hoặc đường vân to cho thấy người này bị bệnh dạ dày, tiêu hoá kém, hò hấp không tốt, tỳ vị suy nhược. Thông thường ở đoạn giữa đường sinh mệnh có nhiều đường vân cản trở chứng tỏ thiếu chất dinh dưỡng bẩm sinh, thời niên thiếu bị nhiều bệnh nên cơ thể suy nhược, phần lớn đường sinh mệnh nhỏ và có nhiều vết lõm. Bên ngoài gò của ngón cái có màu xanh xám, gân xanh nổi lên càng cho thấy tỳ vị bị suy nhược. Nếu lưỡi có màu vàng, trên tay có điểm ban trắng đỏ thì chứng tỏ dương khí trong người quá thịnh, tâm hoả xung khí dẫn đến âm dương mất cân bằng, trong người luôn buồn bực, nóng nảy, tức ngực... Nếu lưỡi có màu xanh trắng, tay lạnh có màu xanh trắng chứng tỏ tỳ vị suy nhược, cơ thể mệt mỏi (Hình 12 - 13).

Đoạn cuối của đường sinh mệnh có đường vân lớn hoặc đường vân hình lưới, màu đen, đường vân to ở đoạn trên và giữa có màu nâu thẫm chứng tỏ người này đang bị ung thư dạ dày (Hình 12-14).

Đường sinh mệnh thô và sâu và dột nhiên bị đứt đoạn, rất dễ bị trúng gió, xuất huyết não, đột tử. Nếu đường sinh mệnh và đường trí tuệ chuyển sang màu đỏ, toàn bộ bàn tay cũng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là 10 đầu ngón tay rất đỏ chứng tỏ máu dồn lên não, kết hợp với huyệt Thái dương và đỉnh đầu bị dau, tay tê liệt, cần đặc biệt chú ý vì đây là triệu chứng của bệnh xuất huyết não, phải nhanh chóng kiểm tra huyết áp, mỡ máu đề phòng nguy cơ bị xuất huyết não nguy hiểm đến tính mạng (Hình 12-15).

Đường sinh mệnh có hình con rắn, đường tình cảm quá dài, trên đường trí tuệ có đường vân lớn và kéo dài về phía gò Nguyệt cho thấy chức năng của tim và huyết quản suy giảm. Ngón giữa và ngón trỏ có hình chiếc dùi, móng tay trắng bạch hoặc xanh xám (ngón cái) cho thấy hệ thống mạch máu não có vấn đề, hay đau đầu, chóng mặt (Hình 12-16).

Một bên của gò Kim tinh trên đường sinh mệnh có đường vân hình lông vũ, cho thây hệ thông tiêu hoá có vấn đề, bí đại tiểu tiện, khả năng hấp thụ kém, chức năng của dạ dày và ruột không tốt, nguyên nhân là do cuộc sông sinh hoạt mất cân bằng (Hình 12-17).

Đường sinh mệnh kéo đài đến phía dưới của gò Địa, cho thấy người này rất dễ mắc bệnh liên quan đến thận hoặc hệ sinh dục, phụ nữ rất có thể sẽ mắc bệnh phụ khoa (Hình 12-18).

Tại vị trí gò Địa phía dưới đường sinh mệnh có một đường vân nhỏ cất ngang qua, nếu là phụ nữ rất có thể trứng sẽ không rụng. Đoạn đầu của đường tình cảm không có đường vân nhánh, ngón út ngắn, móng tay của ngón cái ngắn, người thấp... thường bị bệnh vô sinh (Hình 12-19).

Định tính mật mã trên đường trí tuệ

Đường trí tuệ còn gọi là đường trí năng, đường đầu óc, đường thiên tài.... tên cổ’ gọi là nhân văn.

Ý nghĩa của đường trí tuệ:

Thể hiện chỉ số IQ, mức độ thông minh, khả nâng tư duy.

Thể hiện khí chất, cá tính, xu hướng tính cách.

Thể hiện trí nhớ, trí tưởng tượng, linh cảm và tính sáng tạo.

Thể hiện khả năng thích ứng, khả năng ứng biến và khả năng tự kiềm chế bản thân.

Thể hiện trạng thái chức năng và bệnh tật của các khí quan từ vai trở lên, chủ yếu là não, chức năng của tim (tâm thất trái, phải; tâm nhĩ trái, phải; chức nàng của hệ thống động mạch, tĩnh mạch) được Đông y gọi là "Tâm". Tiếp đó là chức năng của thần kinh thị giác.

Những người có đường trí tuệ có độ dài vừa phải (đoạn cuối nằm giữa khoảng cách từ ngón đeo nhẫn đến ngón út được coi là vừa phải, nếu vượt quá khoảng cách đó được coi là dài, chựa đủ khoảng cách đó thì được coi là ngắn), thô ráp và sâu thường là người có trí tuệ cao, khả năng phán đoán tốt, trí nhớ tốt, thông minh giỏi giang, trí lực phi thường, chức năng tim gan bình thường (Hình 13-6).

Những người có đường trí tuệ thẳng, dài, thô ráp và sâu thường là người thông minh hơn người, năng lực thực tế tốt, làm việc theo kế hoạch và làm từng bước rất chắc chắn, không ngừng tiến bộ trong sự nghiệp, tỷ lệ thành công cao, sống thực tế, tim gan hoạt động bình thường, tư duy lô gíc, thiên về khoa học tự nhiên (Hình 13-7).

Những người có đường trí tuệ ngắn (Đoạn cuối của đường trí tuệ chỉ dừng lại ở dưới ngón giữa), thô ráp và sâu thường là người lòng dạ hẹp hòi, suy nghĩ không tập trung, đứng núi này trông núi nọ, tức giận thất thường, luôn căng thẳng trong quan hệ xã giao (Hình 13-8).

Người có đường trí tuệ quá ngắn, thô ráp và sâu (Đoạn cuối của đường trí tuệ dừng lại ở đoạn giữa ngón trỏ và điểm tiếp giáp giữa ngón trỏ và ngón giữa) thường là người nhát gan, đa nghi, kém thông minh, mạo hiểm, thiếu khả năng tự kiềm chế, dễ manh động mà không tính đến hậu quả (Hình 13-9).

Người có đường trí tuệ thẳng, đoạn đầu của đường trí tuệ nằm ở vị trí phía trên chữ "F" (vị trí 1/2 gốc của ngón cái và gốc của ngón trỏ), thường là người thẳng thắn, quyết đoán, phóng khoáng, trực tính, làm việc dứt khoát nhanh chóng, có năng lực thực tế. Những người có đường trí tuệ dài, rõ nét thường là người có năng khiếu nghệ thuật.

Đường trí tuệ không bị cắt ngang bởi các đường trở ngại và đường trí tuệ có độ dài vừa phải cho thấy người này tinh thần rất tập trung, nhất định sẽ làm lên việc lớn.

Người có đường trí tuệ dài và cong, đoạn đầu đường sinh mệnh nằm ở phía dưới điểm F (vị trí 1/2 giữa gốc của ngón cái và gốc của ngón trỏ) thường là người hay mơ mộng, ảo giác, trí tưởng tượng phong phú, có linh cảm, phán đoán mang tính trực giác giỏi hơn tư duy lô gíc, có năng khiếu nghệ thuật, luôn có những ý tưởng độc đáo trong những giấc mơ, thích cái đẹp (điều này được thể hiện bởi vòng Kim tinh rất rõ nét), lãng mạn, khả năng tình dục mạnh (thể hiện ở gò Kim tinh cao) (Hình 13-12).

Người có đường trí tuệ thẳng và kéo dài đến VỊ trí gò Nguyệt (dừng ở phía dưới ngón út hoặc kéo thẳng từ giữa lòng bàn tay đến đoạn trước của ngón cái, đoạn sau lệch xuống dưới) thường là người có lý trí và giàu tình người, vừa có tư duy hình tượng vừa có tư duy lý tính, thích mơ tưởng nhưng khống viển vông, thực tế, lãng mạn nhưng có giới hạn, sở thích là văn học nghệ thuật, quan sát tỷ mỷ, có tuyệt chiêu (Hình 13-13).



Người có đường trí tuệ mờ nhạt (mềm và không rõ nét) cong xuống dưới và sát với đường sinh mệnh, tính cách hướng nội, thiếu khả năng tự bảo vệ mình, rất dễ bị tổn thương trong tình yêu và trong quan hệ xã giao, có tính ỷ lại, khả năng tự chủ tương đô'i kém, ý chí không cao, luôn có tâm trạng bế tắc, tâm hồn nặng nề (điều này thể hiện ở chỗ có một đường trở ngại cắt ngang đường tình cảm) (Hình 13-14).

Người có đường trí tuệ bị chia thành hai nhánh hướng xuống dưới ở vị trí dưới ngón giữa thường là người hiểu biết rộng, đa tài đa nghệ, khả nâng thích ứng và ứng biên rất tốt, chiến thắng trong mọi công việc, khả năng biểu đạt ngôn ngữ tốt, mồm miệng nhanh nhẹn, có tài ăn nói, hùng biện, giỏi diễn thuyết. Hai đường nhánh càng cong và to thì nâng khiếu nghệ thuật càng tốt (Hình 13-15).

Người có đường trí tuệ bị phân thành hai nhánh ở vị trí phía dưới ngón giữa, một nhánh hướng lên trên, một nhánh hướng xuống dưới, cắt ngang qua đường tình cảm và hướng về phía ngón út (gò Thuỷ tinh), thường là người có khả năng thích ứng tốt, thành cồng trong mọi công việc, năng lực xã giao và hoạt động xã hội tốt. Đường nhánh càng hướng xuống dưới thì trí tưởng tượng càng tốt, sức chú ý càng cao, có mưư lược, kê hoạch làm việc càng cụ thể. Đường nhánh càng hướng lên trên thì người này càng thực tế, có nàng lực thực sự và khả năng phán đoán hợp lý, coi trọng thực tế và vật chất. Nếu hai đường phân nhánh có cả hai dặc trưng trên thì người này có cả hai nhóm tính cách nói trên (Hình 13-16).

Người có dường trí tuệ thẳng,' dài và phân thành nhiều nhánh, thường là người rất quan tâm và có hứng thú với nhiều phương diện, luôn muốn thử sức, một khi đã bắt tay vào việc gì thì hết sức chuyên tâm, thích tư duy theo kiểu lý luận, có thành tích trong nhiều phương diện, có năng khiếu âm nhạc và khả năng cảm nhận tiết tấu rất tốt (Hình 13-17).

Đoạn đầu đường trí tuệ tách ra khỏi dường sinh mệnh và hợp lại với đường vân giữa (phần lớn ồ dưới ngón trỏ và ngón giữa) sau đó lại tách ra, thường là người rất độc đoán, luôn coi mình hơn người khác, luôn muốn chiếm hữu mọi thứ, không biết cách an ủi động viên và luôn muốn chi phôi người khác, thường cáu giận khi không
đạt được mục đích, đặc biệt là nhưng người có đường tình cảm hướng lên phía đường vân hình lông vũ (Hình 14-18).
Người có đường trí tuệ ngăn và thẳng, đoạn cuối nhỏ và kết thúc ở giữa lòng bàn tay, thường là người dễ bị kích động, hiếu chiến, nóng tính, không điềm đạm, thiếu lý trí (đặc biệt là những người đường sinh mệnh và đường trí tuệ tách rời nhau, đường tình cảm kết thúc ở giữa và bị đứt đoạn) (Hình 14-18).




Người có đường trí tuệ hình dây xích hoặc đứt đoạn và cong xuống dưới, thường là người tinh thần không dễ tập trung, dễ bị tổn thương trong tình cảm, thiếu sự nhẫn nại, dễ tản mạn, làm việc gì cũng "đầu voi đuôi chuột'', hay mơ mộng, viển vông, không biết đưa ra kế hoạch, thiếu nàng lực thực tế (đặc biệt là người có đường tình cảm, đường sinh mệnh hình dây xích hoặc đứt đoạn) (Hình 14-20).

Những người có khoảng cách giữa đoạn đầu của đường sinh mệnh và đoạn đầu của đường trí tuệ, thường là người có tính cách hướng ngoại, có khả năng hành động, hiếu động, phóng khoáng, rất dễ chấp nhận quan niệm và sự vật mới, có trí tiến thủ, cố chấp, bướng bỉnh, tư chất bẩm sinh phát triển tốt (Hình 14-21).
Người có đoạn đầu của đường trí tuệ không trùng với đường sinh mệnh và cắt ngang qua bàn tay, thường là người rất có cá tính, tư chất thông minh, nhẫn nại, tinh thần tập trung, mục tiêu phấn đấu lớn lao, dốc toàn lực phấn đấu để đạt được mục tiêu, có sức hấp dẫn kỳ lạ, nhân duyên tốt, được mọi người yêu quý. Đây là vân tay của người lãnh đạo, được coi là người có khả năng quản lý thiên hạ, là đường vân tay của nhà doanh nghiệp, nghệ sĩ, triết gia và chính trị gia... Nếu xuất hiện các đường vân khác thì thể hiện các tài năng khác (Hình 14-22).

Người có đường trí tuệ trùng với đường sinh mệnh ở trong khoảng rộng củạ ngón trỏ, thường là người có khả năng thích ứng cao, có khả năng tư duy lô gíc kết hợp với tư duy cảm tính, nhiệt tình nhưng không mất lý trí, thể hiện dịu dàng nhưng trên thực tế vẫn cứng rắn, cư xử tốt với người khác, không nóng vội, không tức giận, làm việc gì cũng suy nghĩ tính toán rất kỹ, mưu cao, thiếu trí tiến thủ, tương đốì bảo thủ, thích sự ổn dịnh, an phận thủ thường, không dám mạo hiếm (Hình 14-23).

Người có đường trí tuệ trùng với'đường sinh mệnh ồ bên ngoài khoảng rộng của ngón trỏ, thường là người có cá tính mềm yếu, hướng nội, hay mơ mộng, tình cảm phong phú uỷ mị, có linh cảm, thích dộc lập, có tư chất nghệ thuật, trí tưởng tượng phong phú, phán đoán sự vật dựa vào trực giác, sống tình cảm, giàu sự đồng cảm, dễ cảm động, lý tưởng cao và giàu tính sáng tạo, lãng mạn (Hình 14-24).

Người có đường trí tuệ và đường sinh mệnh trùng nhau một đoạn dài, đường trí tuệ dài và cong (A), thậm chí kéo dài đến vị trí gò Nguyệt hoặc trên đường trí tuệ ồ vị trí gò Nguyệt xuất hiện một đường vân lớn và lòng bàn tay có đường vân hình chữ thập (B), hoặc ở vị trí gò Mộc tinh có đường vân lớn hoặc ở vị trí gò Nguyệt có đường vân ngang đâm thẳng vào đường sinh mệnh, hoặc người có đường linh cảm kéo dài từ gò Nguyệt đến gò Thuỷ tinh, hoặc có dường vân to cắt ngang qua phía trên đường tình cảm, thường là người có khả năng tiên đoán trước các sự việc, có ý thức siêu phàm, có tính thần bí bẩm sinh, có năng khiếu của một nhà tiên tri, trí tưởng tượng vô cùng phong phú, có tâm lý trái ngược, chống lại tư duy, không "gặp sao theo vậy” luôn có chính kiến, nếu đường tình cảm kéo dài đến gò Mộc tinh, thì người này có biệt tài của một nhà tiên tri, một chuyên gia về tôn giáo, có khả năng xem tướng số (Hình 14 25).

Trên đường trí tuệ xuất hiện đường vân lớn cho thây người này có bệnh liên quan đến não bộ, tim và huyết quản. Nếu như trên đường tình cảm xuất hiện 2 hoặc 3 đường vân to thường là người bị mệt mỏi do tinh thần căng thẳng, nếu là người sông nội tâm và không bộc lộ tình cảm ra bên ngoài, rất dễ mắc bệnh viêm đoạn đầu ruột non nối với dạ dày do áp lực về tinh thần không được giải toả kịp thời (Hình 15-26).

Tại vị trí phía dưới ngón giữa trên đường trí tuệ xuất hiện

đường vân to hoặc đường vân to xuất hiện ở vị trí phía dưới ngón đeo nhẫn cho thấy người này bị bệnh liên quan đến tâm nhĩ và tâm thất, hoặc liên quan đến hệ thống thần kinh não bộ (Hệ thống trung khu thần kinh); đường vân càng to bệnh càng nghiêm trọng; nếu như đường vân to cắt ngang qua đường trí tuệ ở khu vực gần đường sức khoẻ và giao nhau với đường sinh mệnh, đường tình cảm cho thấy hệ thống mạch máu não đang có vấn đề thể hiện qua các triệu chứng chóng mặt, đau đầu, thiên đầu thông, huyết áp cao, tụ máu não, tắc mạch máu Đặc biệt là đối với những người hai tay đều

có đường vân to, ngón giữa và ngón đeo nhẫn có hình chiếc dùi. Nếu một (tay trái hoặc tay phải) có đường vân to thì dấu hiệu của các bệnh ở bên ngược lại của cơ thể (Hình 15-27).

Tại vị trí bên ngoài điểm giao nhau giừa đường trí tuệ và
đường sinh mệnh có đường vân hình tam giác, phía dưới ngón đeo nhẫn có đường vân ngang cho thấy người này bị bệnh liên quan đến mắt, hệ thống thần kinh thị giác suy yếu, dễ mắc bệnh cận thị, viễn thị, quáng gà, viêm giác mạc, khiếm thị... Trên gò Hoả tinh có nhiều đường vân lớn hình chữ thập cho thấy hệ thống thần kinh thị giác mệt mỏi, ngủ không đủ, cận thị (Hình 15-28).

Người có đường trí tuệ song song với đường sinh mệnh thường rất dễ bị đau đầu, hoa mắt, chóng mặt (Hình 15-29).





Hình 15: Hình các đừờng trí tuệ (tiếp)

Người có đường trí tuệ trùng nhau quá dài, kéo dài đến gò Nguyệt, gò Địa thường rất dễ mắc bệnh liên quan đến tai và mắt (Hình 15-30).

Đường trí tuệ, đường sức khoẻ có hình con rắn cho thấy người này rất dễ mắc bệnh liên quan đến não bộ (Hình 15-31).

Người có đường trí tuệ có nhiều đoạn thẳng xen kẽ với các đoạn cong thường bị bệnh tim bẩm sinh, rất dễ nổi nóng, thô bạo, dễ xúc động, tâm lý không ổn định, dễ cực đoan (Hình 15-32).

Đường trí tuệ bị đứt đoạn ở giữa cho thấy người này mắc bệnh tim bẩm sinh do di truyền, có hồi phục nhưng chưa khỏi dứt điếm, dễ mắc các bệnh về thần kinh, thường đi vào bế tắc, buồn phiền, tâm lý lúc nào cũng căng thẳng, nặng nề (Hình 15-33).



Đoạn cuối đường trí tuệ có nhiều đường vân lớn và nông cho thấy người này bị hói đầu do áp lực thần kinh quá lớn hoặc do suy nghĩ quá nhiều, thuộc loại bệnh liên quan đến tim và não do tâm khí bị tổn thương gây ra, dễ xuất hiện hiện tượng máu cung cấp cho tim không đủ, cùng với bệnh thiên đầu thống, một bên người bị liệt (dấu hiệu trên tay trái và tay phải giống như dấu hiệu trên cơ thế) (Hình 15-34).



Định tính mật mã trên đường tình cảm


Đường tình cảm hay còn gọi là đường tình yêu, đường hôn nhân, đường tâm tình. Người xưa gọi là "Thiên văn". Theo quan niệm của Đông y chẩn đoán bệnh qua đường vân tay thì "Thiên tuyến" là một đường thẳng nằm ngang qua hoặc xuyên qua phía trên đường tình cảm (xem Hình 14-25 và hình 16, 25 trang 8, 10).


Ý nghĩa của đường tình cảm:



Thể hiện chức nàng của hệ thống tuần hoàn máu não và tim, chức năng của trung khu thần kinh. Đông y gọi là “Tình Chí”.



Thể hiện đặc trưng và sự thay đổi của tình cảm.



Thể hiện chức năng của hệ thống sinh dục, thái độ tình cảm và sự thân tình đối vởi người khác (cha mẹ, anh em, chị em, con cái), thái độ và tính dục dối với vợ, người yêu, người khác giới.



Thể hiện tình trạng hôn nhân, trạng thái đời sống tinh thần
và đời sống tình cảm, thể hiện trình độ văn minh tinh thần và giáo dục, thể hiện trạng thái khí chất của một con người.



Thể hiện quan hệ xã hội và khả năng xã giao.



Người có đường tình cảm vừa phải (đoạn cuối của đường tình cảm kéo dài đến chính giữa chỗ giao nhau của ngón trỏ và ngón giữa), đoạn giao nhau giữa đường sinh mệnh và đường trí tuệ vừa phải, thường là người rộng rãi lạc quan, chắc chắn nhưng thiếu chủ động, tính tình ôn hòa, biết an ủi dộng viên người khác, không có quá trình yêu đương manh liệt, là mẫu người chồng chung thủy hoặc người vợ hiền (Hình 16-6).






Người có đường tình cảm vừa phải, đường trí tuệ và đường sinh mệnh phân cách, thường là người theo đuổi mãnh liệt trong tình yêu, nếu vòng Kim tinh rõ ràng, hoàn chỉnh thường thuộc mẫu người trai tài gái sắc, hiếu thắng, nhiệt tình (Hình 16-7).



Người có đường tình cảm phân thành ba nhánh, thường là người có quan hệ xã giao tốt, ôn hòa, biết chăm sóc người khác, yêu quý trẻ nhỏ, có sức hấp dẫn đối với người khác giới, tình yêu mãnh liệt. Người có đường sinh mệnh và đường trí tuệ tương tự như mục (6) thường là người biết chăm sóc người khốc, sẵn sàng hy sinh hoặc chịu thiệt thòi vì người mình yêu; nếu tương tự như mục (7) thì thường có tình yêu nam nữ lãng mạn, kết hôn sớm hoặc muộn, kết hôn muộn thì cuộc sống gia đình tương đối ổn định, nếu kết hôn sớm thì cuộc sông gia đình sẽ có nhiều biến cố. Trong ba đường nhánh đó nếu có một nhánh phân tách với đường tình cảm chứng tỏ người này thường rất nhạy cảm (Hình 18, 27 trang 8, 10); nếu trên đường nhánh đó có đường vân lớn hoặc đường vân hình quả trám thì rất dễ bị trúng gió khi về già (Hình 16-8).



Người có đường tình cảm chia thành hai đường và có độ dài vừa phải (a) thường là người có năng khiếu đặc biệt, vừa có lý tính vừa tâm lý, khoan dung độ lượng với mọi người, không tính toán chi li, hoạt bát, hiếu động, thể lực sung mãn (Hình 16-9).



Phía dưới đường tình cảm có đường vân hình lông cánh cho thấy đây là người biết chàm sóc người khác, hiền hòa, nặng tình mẩu tử, có lòng đồng cảm, thích giúp đỡ người khác, có tinh thần hy sinh vì người khác. Tuy nhiên thường nghĩ quá nhiều về người khác nên hay bị mọi người hiểu lầm, bị coi là có ý đồ khác, chịu thiệt thòi nên hay bị mất lòng tin đối với người khác (Hình 16-10).



Phía trên đường tình cảm có đường vân hình lông cánh cho thấy người này luôn có tính đố kị, có khả năng xã giao tốt, biết cách thể hiện tình cảm của mình, không biết cách chăm sóc người khác, có xu hướng coi mình là trung tâm. Nếu đường vân này kéo dài đến gốc của ngón trỏ thì người này có quyền chi phối người khác, đố kỵ người tài giỏi hơn mình, lòng dạ hẹp hòi, luôn muốn độc chiếm mọi thứ, không đạt được mục đích liền tức giận (Hình 16-11).



Giữa đường tình cảm xuất hiện một đoạn đường vân lớn, phần đầu của đoạn trùng nhau giữà đường trí tuệ và đường sinh mệnh không dài, chứng tỏ người này luôn lạc quan, yêu đời, quan hệ xã giao tốt, luôn giữ được sự hòa thuận trong gia đình, chiều chuộng con cái, năng lực làm việc rất cao, được mọi người tin tưởng, thích giúp đỡ người khác (Hình 16-12).



Đoạn giữa của đường tình cảm bị đứt thành mấy đoạn và ngắn, cho thây đây là người tâm lý không ổn định, dễ nóng nảy, tức giận, cãi nhau, dễ nảy sinh mâu thuẫn với người khác từ những việc nhỏ, quan hệ xã giao không ổn định, thiếu sự điềm tĩnh chững chạc. Đồng thời cho thây thần kinh quá nhạy cảm, vui buồn thất thường (Hình 16-13).



Người có đường tình cảm hình dây xích và nốt vân nhỏ, thường là người đa sầu đa cảm, đặc biệt đối với những người có nhiều đường vân ngang và nhỏ ở gần đường tình cảm thì tính cách đó càng thể hiện rõ hơn, luôn phải suy nghĩ về chuyện tình cảm, rất dễ cảm động, thiếu tính nhẫn nại (Hình 16-14).



Toàn bộ đường tình cảm đứt đoạn và phân tán, cho thấy đây là người thích làm việc độc lập, vụng về trong việc biểu lộ tình cảm của mình, năng lực xã giao kém, luôn tự cảm thấy vui vẻ trong khoảng trời riêng của mình, dường như hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài (Hình 16-15).



Người có đường tình cảm thẳng kéo dài đến gò Mộc tinh phía dưới ngón trỏ, thường là người luôn coi trọng sự nghiệp, toàn tâm toàn lực phân đấu cho sự nghiệp. Tỷ lệ thành công trong công việc rất cao, làm việc gì cũng có kế hoạch và thực hiện có hiệu quả các bước trong kế hoạch, trở ngại càng lớn ý chí càng cao, chưa đạt được mục tiêu thì chưa nghỉ ngơi, giỏi phân tích phán đoán, có năng lực lãnh đạo, không bị dao động trước tác động của môi trường, là người có nghị lực, nhẫn nại, nhanh chóng trở thành chuyên gia hoặc nhân vật cốt cán trong một lĩnh vực nào đó. Nếu đoạn cuối của đường tình cảm hướng lên trên, chứng tỏ người này ý thức độc lập rất cao (a). Nêu đoạn cuối của đường tình cảm hướng xuống dưới, cho thấy đây là người luôn rất thích chăm sóc người khác (b). Nếu đường tình cảm ở tay trái và tay phải, một đường hướng lên trên, một đường hướng xuống dưới, chứng tỏ người này vừa có trách nhiệm với cấp trên vừa biết bảo vệ cấp dưới; hoặc' kính trên nhường dưới, hoặc sẵn sàng chông lệnh cấp trên để bảo vệ quyền lợi cho cấp dưới. Nếu đường tình cảm kéo dài đến gò Mộc tinh, cho thấy đây là người thích suy nghĩ tìm tòi và thiên về lý luận (c). Trên gò Mộc tinh của đường tình cảm xuất hiện dấu hiệu hình n, #, 0, o cho thấy người này đang bị các bệnh liên quan đến gan và mật (Hình 16-16).



Đường tình cảm có hai đường nhánh song song với nhau và kết thúc ở chính giữa gò Thổ tinh phía dưới ngón giữa cho thấy đây là người luôn có xu hướng coi mình là trung tâm, độc đoán chuyên quyền, bảo thủ, không tiếp thu ý kiến của người khác, rất khó hòa hợp với mọi người, dường như không bao giờ nghĩ cho người khác, sống khép mình trong chuyện tình cảm, không từ một thủ đoạn nào để đạt được những gì mình muốn, lòng dạ hẹp hòi. Đường tình cảm càng ngắn thì xu hướng tính cách trên càng lộ rõ, đặc biệt đôi với những người có ngón cái nhọn và ngắn (Hình 16-17), phía dưới gần với đường tình cảm có một đường vân ngắn cho thấy người này tự khép mình trong chuyên tình cảm, không biết thể hiện tình cảm của mình, sống nội tâm.



Đường tình cảm có hai đường vân và hướng lên gò Mộc tinh, cho thấy người này có năng lực lãnh đạo rất cao, phán đoán sự vật một cách khách quan, biết khống chế tình cảm, thể lực sung sức, sảng khoái, tích cực, chịu khó, trách nhiệm. Luôn kiên định với ý kiến của mình, niềm tin mãnh liệt. Lạnh nhạt trong quan hệ với người khác, vừa có tình cảm vừa có lý trí, không bao giờ có hành vi vượt quá giới hạn cho phép, có phần lạnh nhạt. Nhưng do quá tập trung cho công việc nên não bộ có vấn đề (Hình 16-18) (Hình 16 trang 8).



Người có đường tình cảm đứt đoạn và nhỏ thường là người dễ mắc bệnh do tinh thần quá căng thẳng, đặc biệt là bệnh liên quan đến hệ thông thần kinh (Hình 16-19).



Đường tình cảm hình dây xích hoặc đứt đoạn, thường là người có tim, não, thần kinh gần như không bình thường, đều mắc các bệnh bẩm sinh, bệnh não và thần kinh suy nhược, thần kinh phân liệt, ngón giữa, ngón đeo nhẫn hình chiếc dùi, đặc biệt những người ngón giữa hình chiếc dùi thì đặc điểm tính cách nói trên càng rõ nét hơn. Ngón giữa tượng trưng cho tim, trung khu thần kinh, não. Nếu ở đoạn đường tình cảm phía dưới khoảng cách giữa ngón giữa và ngón đeo nhẫn xuất hiện các vết ban màu đen hoặc trên đường Thái dương phía dưới ngón đeo nhẫn xuất hiện dấu hiệu hình dấu nhân, dâu sao và dấu cộng, chứng tỏ người này có nguy cơ bị bệnh tim đột ngột, cần đặc biệt chú ý (Hình 16-20).



Đường tình cảm tương đối dài và bị đứt thành những đoạn ngắn, bàn tay nhỏ, cho thấy người này mắc bệnh huyết áp cao hoặc huyết áp thấp. Gò Kim tinh, gò Nguyệt, gò Thủy tinh, gò Thái dương, gò Thổ tinh đầy đặn và có màu đỏ đậm là biểu hiện của bệnh huyết áp cao, nếu các gò này có màu trắng bạch hoặc màu nâu là dấu hiệu của bệnh huyết áp thấp, đặc biệt là đối với những người có nhiều móng tay có hình tam giác ngược (Hình 16-21).



Người có đường tình cảm và đường trí tuệ vừa phải (kết thúc ở điểm giao nhau với vị trí trung tâm của ngón giữa) thường là người có chức năng tim bình thường (d); đường tình cảm và đường trí tuệ kéo dài đến giữa ngón giữa và ngón trỏ cho thấy người này tim khỏe mạnh (e); đường tình cảm và đường trí tuệ ngắn hơn so với mục (d) chứng tỏ tim của người này bị suy nhược bẩm sinh, bệnh tim, hoặc bị bệnh hên quan, đến hệ thông tuần hoàn máu (í); đường tình cảm và đường trí tuệ dài hơn so với mục (d) và kéo dài đến gò Mộc tinh, cho thấy người này dễ mắc bệnh huyết áp cao (g) (Hình 17-22).



Đoạn đường sinh mệnh ở phía dưới ngón giữa hoặc trên đường Ngọc trụ xuất hiện các vết ban tô'i màu hình sao, hình dâu nhân, cho thấy người này dễ bị trúng gió và nhồi máu cơ tim (Hình 17-23).



Đường tình cảm có hai nhánh và tối màu cho thấy người này dễ mắc các bệnh liên quan đến tai và thận, đặc biệt đối với những người trên gò Địa có vết ban tối màu hoặc đường vân khác thường thì biểu hiện của bệnh càng rõ hơn. (Hình 17-24)



Đường tình cảm ở phía dưới ngón đeo nhẫn xuất hiện đường vân lớn cho thấy người này dễ mắc các bệnh liên quan đến mắt, đặc biệt là đối với những người trên điểm giao nhau giữa đường trí tuệ và đường sinh mệnh có dấu hiệu hình quả trám thì triệu chứng trên càng rõ nét hơn (Hình 17-25).






Định tính mật mã đường bổ trợ của đường tình cảm



Đường bổ trợ của dường tình cảm hay còn gọi là đường hôn nhân, đường kết bạn, vòng Kim tính, đường Thái dương, đường con cái, đường vân thể hiện trạng thái tình cảm bay bổng.



Đường vân thể hiện trạng thái tình cảm bay bổng: Đường vân này nằm trên đường tình cảm, là một đường vân thẳng hoặc cong song song sát với đường tình cam, nhưng ngắn hơn đường tình cảm, thực tế đây là đường vân thể hiện nhu cầu sinh dục quá lớn. Nếu gò Kim tinh phát triển, vòng Kim tinh đứt đoạn hoặc rõ nét, trên gò Nguyệt, đường vân ảnh hưởng nhiều (cho thấy người này có nhiều cơ hội kết bạn với người khác giới), đặc biệt đối với những người có đường vân to phía trong đường sinh mệnh thì đặc điểm trên càng rõ nét hơn. Cho thây người này có nhu cầu tình cảm bên ngoài rất lớn, tính tình trăng hoa, bồ bịch. Đường vân này còn thế’ hiện thận khí hư, mắc các bệnh liên quan đến hệ thống sinh dục (Hình 18-1).



Đường vân thể hiện sự quá khích (dường phản kháng): Đường vân này nằm phía dưới đường tình cảm, đoạn đầu của đường trí tuệ và đường sinh mệnh phân cách nhau. Những người này thường coi trọng chính nghĩa, hiếu chiến và phá hoại. Thường có những ý tưởng siêu phàm, cảm giác nhạy bén, dễ bị kích động, có tâm lý phản kháng, điều này càng thể hiện rõ nét ở những người có vòng Thổ tinh (thể hiện ý kiến ca nhân, không dễ hợp tác với người khác) và đường tình cảm bị đứt đoạn. Đường tình cảm bị đứt đoạn cho thấy tinh thần bị kích động bất ngờ do tâm lý quá khích. Họ thường không thích cuộc sốhg tù túng, thích lối sống có cá tính, có chính kiến, hiếu thắng, nắm không chắc vân đề nên rất dễ nảy sinh suy nghĩ tiêu cực. Trước năm 20 tuổi vẫn có thể sống hòa hợp với người thân, nhưng sau đó phải ra đi vì bất hòa với người thân, nếu là nữ rất dễ bỏ nhà đi theo bạn trai vì những bất đồng trong chuyện tình yêu với gia đình, họ thường ưa nhẹ không ưa nặng, càng gây áp lực thì họ càng chông đối mạnh. Trong đời sông hôn nhân không hài lòng về mọi việc, thường xuyên cãi nhau, dễ ly dị. Đường phản kháng sát với đường tình cảm cho thấy người này tự sống khép mình trong chuyên tình cảm (Hình 18-2).



Vòng Kim tinh: Là hình bán nguyệt nối phía dưới của ngón giữa với phía dưới của ngón đeo nhẫn. Thể hiện trạng thái tình cảm, vẻ đẹp mạnh mẽ hoặc vẻ đẹp hiền dịu, cũng như khả năng thẩm mỹ và khả nàng nắm bắt. Vòng Kim tinh có ba ý nghĩa: (a). Mỹ nhân, dáng vóc mỹ miều, dung nhan mặn mà, nam thì khôi ngô tuấn tú, nữ thì yểu điệu nết na; (b). Có tư chất nghệ thuật, mẫn cảm trước cái đẹp, sổng vui vẻ thoải mái, luôn theo đuổi những đối tượng lịch lãm, lãng mạn, cầu toàn, luôn lý tưởng hóa mọi thứ (c). Rất hứng thú đối với người khác giới và nhiệt tình trong theo đuổi người khác giới, có sức hấp dẫn tự nhiên, biết cách đoán biết được ý của người khác, ai nhìn thấy cũng quý, khiến nhiều người mê mệt. Những người có vòng Kim tinh không tạo thành một hình bán nguyệt mà đứt thành nhiều đoạn, thường là người không chuyên tâm, không có sức hấp dẫn trong công việc, đứng núi này trông núi nọ, có những nét đứt của vòng Kim tinh chứng tỏ người này có khuyết điểm, không hoàn mỹ, ý nghĩa của vòng Kim tinh bị suy giảm (Hình 18- 3) (lính 12, 15, 25 trang 7, 8, 10).



Đường hôn nhân: Đường hôn nhân thường nằm giữa đường tình cảm và gốc của ngón út, là một đường thẳng, kéo dài và giao nhau với đường tình cảm. Điểm giao nhau thường thể hiện những năm tháng ngọt ngào trong chuyên tình cảm (Hình 18-4,a). Những người khóng có đường hôn nhân thì đường tình cảm có thể coi là đường hôn nhân. Đường phong lưu (đường vân thể hiện trạng thái tình cảm bay bổng) là một hình thái đặc thù của đường hôn nhân. Đường hôn nhân có thể đồng thời được coi là đường sinh dục (Hình 18-4) (Hình 18, 25 trang 8, 10).



Trong trường hợp đường hôn nhân xuất hiện đường vân lớn, thể hiện trở ngại về tâm lý và trở ngại trong tình cảm, trên đường hôn nhân có dấu hiệu hình quả trám thể hiện nguy cơ tâm lý tình cảm. Trường hợp trên đường hôn nhân có 4 dấu hiệu hình vuông, hình quả trám, hình dấu thăng, thể hiện nguy cơ tan vỡ và sự dột biến trong tình cảm. Vị trí xuất hiện thể hiện diễn biến của tình cảm qua từng năm. Trên đường tình cảm xuất hiện đường vân hình chữ Y, cắt ngang qua đường tình cảm, nối liền với đường sức khoẻ (đường vân bổ trợ cho đường tình cảm) hoặc đường vận mệnh, thường thể hiện diễn biến tình cảm từ khi kết hôn đến khi ly hồn hoặc diễn biến nguy cơ trong tình cảm (Hình 18-4, a, b) (Hình 25 trang 10).



Trên đường tình cảm xuất hiện đường vân to (thể hiện sự tổn thương về tinh thần hoặc tình cảm) hoặc đồng thời có đường vân hình chữ Y cắt ngang qua, ý nghĩa tương tự trên, thể hiện tai hoạ trong hôn nhân hoặc nỗi giằn vặt trong tình cảm (Hình 18-4.b).



Hình 18: Các đường tình cảm phụ (hay đường bổ trợ của đường tình cảm}



Trên đường hôn nhân có đường phong lưu và đoạn cuối của đường hôn nhân chia thành hai hoặc nhiều nhánh cho thấy người này sớm thành thạo trong chuyện quan hệ tình dục, những cô gái có vòng Kim tinh rõ nét và phân tán thường sớm đánh mất đời con gái. Dấu hiệu mất trinh thể hiện trên đường hôn nhân, thường xuất hiện trên đường tình cảm của những người thử kết hôn và sống thử. Nếu gò Nguyệt, gò Kim tinh và gò Thuỷ tinh phát triển đầy đặn thì biểu hiện này càng rõ. Rất dễ mắc các bệnh liên quan đến thận, hệ thông sinh dục, hệ thống tiết niệu do đời sông tình dục vô độ (Hình 18-4.C) (Hình 25 trang 10).



Đường kết bạn: Đường vân này rất dễ trùng với đường hôn nhân. Đường vân này bắt đầu từ vị trí của đường hôn nhân, hình thành tập hợp hình bình hành gồm các đường vân kéo dài đến phần giao nhau giữa ngón trỏ và ngón giữa. Có bao nhiêu đường vân thì có bấy nhiêu người bạn, có thể là bạn đồng giới cũng có thể là bạn khác giới, vị trí xuất hiện thể hiện diễn biến qua các năm. Trên đường kết bạn có dấu hiệu hình ngôi sao, hình chữ thập, hình chữ nhân... thể hiện người bạn tri âm tri kỷ, không có các dấu hiệu này là bạn bình thường. Nếu là bạn khác giới, rất có thể sau khi kết hôn vẫn không quên được người yêu cũ, vẫn có liên hệ với người ấy, nếu không có bản lĩnh và chung thuỷ với chồng (vợ) thì rất dễ dẫn đến rạn nứt trong đời sống hôn nhân (Hình 18-5, 18-5d) (Hình 25 trang 10).


Hình 5d của hình 18 cho thấy, từ thời niên thiếu cô gái này có một chàng trai “thanh mai trúc mã”, quan hệ giữa hai người rất tốt, nhưng do nhiều biến cố khác nhau nên cô gái phải kết hôn với chàng trai khác. Sau khi kết hôn vẫn không quên được người yêu cũ, cô ta lúc nào cũng nhở về người yêu cũ, một thời gian sau cô ta công khai điều đó với chồng, người chồng đồng ý đưa cô ta di gặp người yêu cũ để làm rõ sự tìrih. Theo lời kể của cô gái, người yêu cũ của cô kết hôn trước, trước khi kết hôn cô gái có đi gặp anh ta, nhưng do vợ của anh ta ghen nên anh ta không dám đì gặp lại cô gái, từ đó trở đi hai người không gặp nhau nữa.


Một ví dụ khác, tương tự như ví dụ trên. Một chàng trai đến gặp tôi, lúc đầu tôi chỉ nói là hôn nhân của anh ta có vấn đề, nói anh ta phải cẩn thận, nhưng không nói kỹ. Nhưng lần thứ hai gặp lại, anh ta yêu cầu tôi nói rõ, tôi mời mọi người ra ngoài, anh ta nói không cần, tôi nói luôn: "Cậu có một người bạn khác giới thời thanh niên, hai người quan hệ rất tốt, mặc dù cậu đã kết hôn, nhưng do không thể kết hôn với cô gái đó, từng có một thời gian dài làm cho cậu thân tàn ma dại, bởi vì cậu là người trọng tình cảm. Sau khi kết hôn cậu vẫn còn quan hệ với cô ta, do đó cậu phải cẩn thận, không nên quá lộ liễu", khi tôi chưa nói dứt lời, cậu ta thốt lên: "Đúng quá!". Bởi vì tôi nói cho cậu ta kết hôn năm nào, nguy cơ kéo dài trong bao lâu, tương lai ra sao. Sau khi tôi nói xong, cậu ta kể lại câu chuyện tình lãng mạn của mình. Cô gái đó là bạn từ thời tiểu học, cùng học đại học và hai người yêu nhau, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hai người không thể đi đến hôn nhân, sau đó cậu ta ốm một trận thập tử nhất sinh. Tuy nhiên, sau khi kết hôn cậu ta cũng đã công khai chuyện này với vợ, nên cậu ta không sợ mọi người biết chuyên, không cần phải lo lắng.



Đường con cái (đường sinh dục) mỗi sách có cách gọi khác nhau hoặc gọi đường hôn nhân chính là đường con cái hoặc gọi đường vân nhánh hình lông cánh ở đoạn đầu của đường tình cảm là đường con cái. Nhưng trong cuốn sách này quan niệm đường vân từ gốc của ngón út đến đường tình cảm gọi là đường con cái hoặc đường sinh dục. Từ trên xuống dưới, có bao nhiêu đường con cái thì sẽ có bây nhiêu con, đường con cái sâu là con trai, nông là con gái, nếu đường con cái vừa ngắn vừa nông chứng tỏ cơ thể không khoẻ mạnh, có mấy đường con cái thì có bấy nhiêu lần mang thai, bao gồm cả những lần sẩy thai.



Đường Thái dương: Là đường vân thẳng phía dưới ngón đeo nhẫn. Do phía trên ngón đeo nhẫn có huyệt đạo gan, nên nếu trên đường Thái dương xuất hiện dấu hiệu của bệnh tật, thể hiện bệnh tật liên quan đến mắt và mạch máu não, đặc biệt là bệnh tim (Hình 19-G, S-Ư).



Định tính mật mã đường vận mệnh và đườn^ chuyển mệnh


Đường vận mệnh hay còn gọi là đường công tác, đường sự nghiệp (Hình 19-K), đường Ngọc trụ (Hình 19-L), đường nhân sinh. Người không có đường vận mệnh, có thể coi đường sinh mệnh là đường vận mệnh. Đường chuyển mệnh là đường vân phía trên đường vận mệnh (Hình 19-M)7


Ý nghĩa của đường vận mệnh:



Thể hiện sức khoẻ của toàn bộ cơ thể trong cuộc đời một con người.



Thể hiện xu thế phát triển của công việc và sự nghiệp.



Thể hiện thời vận và quan hệ xã giao.



Người có đường vận mệnh bắt đầu từ gò Nguyệt (N) gọi là đường vận mệnh hỗ trợ từ bên ngoài hoặc đường cơ hội, tất yếu sẽ được quý nhân (nhân gian hoặc thời thế) phù trự, quan hệ xã giao rất tốt. Nếu đường vận mệnh bắt đầu từ phần giáp với cổ tay (O) là người có cuộc sống hạnh phúc từ thuở nhỏ, được mọi người giúp đỡ (Hình 19-4) (Hình 25, 27 trang 10)


.Hỉnh 19: Các đường vận mệnh, đường chuyển mệnh






Người có đường vận mệnh bắt đầu từ gò Nguyệt ở chính giữa lòng bàn tay, hướng lên trên và không bị đứt đoạn, thường là người rất may mắn, tự mình phấn đâu, dựa vào sức mình làm nên việc lớn. Cả đời luôn tự phấn đấu vươn lên. Đường vận mệnh đặc thù này là đường Ngọc trụ (Hình 19-5) (Hình 24, 31 trang 9, 10).



Người có đường vận mệnh sát với phía dưới đường sinh mệnh và hướng lên trên, thường là người sông dựa dẫm vào bố mẹ trong khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời gian được thể hiện bởi đoạn đường vân tiếp giáp với đường sinh mệnh, người này thường dựa dẫm ỷ lại, đa số là những đứa trẻ được sinh ra khi bố mẹ đã lớn tuổi, đồng' thời cho thấy tố chất sinh mệnh bẩm sinh của người này rất tốt (Hình 19-6K).



Đoạn đường vân thế’ hiện tuổi 30 trở về trước trên đường vận mệnh trùng với đường sinh mệnh; cho thấy người này luôn được người khác giúp đỡ, trước năm 30 tuổi người này có sức sống rất mãnh liệt (Hình 19-7) (Hình 12 trang 7).



Một hoặc hai bên của đường vận mệnh có đường vân hình bình hành, thể hiện người này được tăng tuổi thọ và luôn được quý nhân phù trợ, đường vân hình bình hành là "đường vân quý nhân", vị trí sở tại thể hiện khoảng thời gian được "quý nhân phù trợ". Làm cho mục tiêu trước đây không có cách nào đạt được cuối cùng cũng thành công. Trong khoảng thời gian này làm việc gì cũng được quý nhân phù trợ, tự bản thân mình không thể làm được bất kỳ việc gì. Đường quý nhân xuất hiện ở một bên của ngón út chứng tỏ sự nghiệp, công việc đều được quý nhân phù trợ, xuất hiện tại một bên của ngón cái cho thấy nhờ giúp đỡ người khác nên gặp may mắn. Nếu đường Thái dương rõ nét và song song với đường vận mệnh, cho thấy người này luôn được giúp dỡ cả về vật chất và tinh thần, đặc biệt đối với những người trên đường Thái dương xuất hiện dấu hiệu hình ngôi sao thì biểu hiện trên càng rõ rệt hơn (G) (Hình 19-8) (Hình 25, 27, 30 trang 10).



Người có đường vận mệnh bị đứt quãng ử giữa, thường là người bị bệnh hoặc sự nghiệp và cồng việc đều dừng lại. Nếu là đứt đoạn mờ (Q) cho thấy người này có khả năng tự phấn đấu vươn lên, được điều động công tác hoặc chuyển công tác lên vị trí tốt hơn. Nếu quan sát thấy đường vân phía trên của đường vận mệnh nghiêng về phía đường vận mệnh và xuyên qua đường vận mệnh, cho thấy người này sẽ bị chuyển công tác hoặc bị cách chức, đặc biệt trong trường hợp đoạn đứt của đường vận mệnh có dấu hiệu hình chữ Y thì biếu hiện trên càng rõ hơn (Hình 19-9).



Người có đường vận mệnh và đường trí tuệ giao nhau, đoạn dưới của đường vận mệnh không rõ, đường phía trên kéo dài từ đoạn giữa của đường sinh mệnh đến vị trí gò Mộc tinh (V), thường là người sẽ chuyển đổi vận mệnh trong giai đoạn trung niên, chỉ cần trước năm 30 tuổi nỗ lực phấn đầu thì sau này tất sẽ thành công. Đồng thời cho thấy trước tuổi 30, thể lực, tinh lực đều không tốt, bệnh chủ yếu liên quan đến bụng và lưng (Hình 19-10).



Trên đường vận mệnh xuất hiện đường vân to hoặc đường vân hình dấu nhân (T), khoảng' thời gian và VỊ trí xuất hiện các dấu hiệu đó cho thấy người này bị bệnh liên quan đến một khí quan nào đó trong một khoảng thời gian nào đó, đồng thời cho thấy sự nghiệp sẽ gặp tai hoạ hoặc trở ngại. Nếu đoạn cuối của đường vận mệnh xuất hiện đường vân hình chữ X, báo hiệu tai hoạ sắp ập xuống, nếu trên đường Thái dương xuất hiện đường vân lớn hoặc dấu hiệu hình chữ X báo hiệu sắp phá sản, thường mắc các bệnh như: cao huyết áp, trúng gió, tim, bệnh liên quan đến hệ thống tuần hoàn máu.... (Hình 19-11).



Người có đường vận mệnh bị đứt thành nhiều đoạn, thường là người có tố chất cơ thể kém, nhiều bệnh, thường xuyên thay dổi công việc và thay đổi môi trường sống (Q).



Tại đoạn giao nhau giữa đường vận mệnh và đường trí tuệ xuất hiện dấu hiệu (-O-) cho thấy người này bị bệnh tỉm, xuất hiện dấu hiệu hình thoi chứng tỏ bệnh rất trầm trọng; xuất hiện dấu hiệu hình sao cho thấy người này bị viêm nhiễm ví dụ như viêm cơ tim, có dấu hiệu hình bánh xe chứng tỏ bệnh nhiều lần tái phát, trên đường trí tuệ xuất hiện dấu hiệu hình (-0-) hoặc hình thoi hoặc dấu hiệu hình thoi có hai gạch ngang ở hai bên rất có thể người này bị đột tử do bệnh tim bẩm sinh; nếu ở vị trí đó xuất hiện vết ban hoặc hình chữ X, đây là dấu hiệu nguy hiểm, có xu hướng biến đổi đột ngột, tuyệt đối không được chủ quan; xuất hiện dấu hiệu hình tam giác, hình ngôi sao, hình vuông hoặc hình dấu thăng đều có thể gây ra bệnh tật ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, thường kèm theo các triệu chứng của bệnh (Hình 20-13).



Trên đoạn đứt giao nhau giữa đường vận mệnh và đường tình cảm hoặc phía dưới ngón giữa, phía dưới ngón trỏ, phía dưới chỗ giao nhau giữa ngón giữa và ngón trỏ, phía dưới khe giao nhau giữa ngón giữa và ngón đeo nhẫn hoặc phía dưới ngón đeo nhẫn... xuất hiện các dấu hiệu hình thoi có một gạch ngang ở bên trái, hình bán đảo, hình nửa quả trám, hình dấu sao, hình tròn, hình chữ X, hình dấu cộng.... cho thấy do sử dụng nầo quá sức, thần kinh quá căng thẳng dẫn đến các bệnh tim, não, tụ máu não, huyết áp cao, tràn máu não, thiểu nảng tuần hoàn não, chóng mặt, đau đầu, tiền đình, thiên đầu thống... (Hình 20-14).






Trên đoạn giao nhau giữa đường vận mệnh, đường trí tuệ và dường tình cảm xuất hiện các dấu hiệu của hình 20-13; hình 20-14, cho thấy người này thường bị mắc các bệnh ở đầu và não bộ do chức năng của tim và chức năng tuần hoàn máu gặp trở ngại (Hình 20- 15). Dấu hiệu bệnh của hình 20-13; hình 20-14; hình 20-15 xuất hiện ở tay trái thì bệnh sẽ xuất hiện ở bên phải của các khí quan hoặc cơ thể, nếu các dấu hiệu đó xuất hiện ở tay phải thì vị trí của bệnh sẽ xuất hiện ở bên trái.



Trên một đoạn vị trí gò Địa của đường sinh mệnh hình Ngọc trụ, đường vân sắp xếp lộn xộn, nhỏ và mềm mại, cho thấy chức năng của thận hoặc chức năng của hệ thống tiết niệu, hệ thống sinh dục suy giảm, vị trí nào xuất hiệu dấu hiệu của bệnh thì vị trí đó bị bệnh, vị trí của bệnh có thể xem sơ đồ hệ thống định vị khu vực mật mắ sinh mệnh ở vị trí gò Địa (Hình 20-16) (Hình 25 trang 10).



Đoạn phía dưới huyệt Lao cung trong lòng bàn tay của đường vận mệnh hình Ngọc trụ xuất hiện dấu hiệu của bệnh, bệnh liên quan đến ổ bụng cho thấy người này mắc các bệnh liên quan đến dạ dày, lá lách, đoạn đầu ruột non Ịiối với dạ dày, ruột non, ruột già, trực tràng, đại tràng.... (Hình 20-17).



Phía dưới cùng của đường vận mệnh hình Ngọc trụ xuất hiện các dấu hiệu hình chữ nhân, hình một đường thẳng cắt dọc hình thoi, hình thoi có hai nét gạch ngang ở phía trên và phía dưới, hình tròn có hai nét gạch ngang ở phía trên và phía dưới, nhiều hình thoi nốì tiếp nhau., chứng tỏ người này đang mắc các bệnh liên quan đến hậu môn, âm đạo, cổ tử cung... (Hình 20-18),



Định tính mật mã đường vân xuyên suốt bàn tay (vân thông quán hay vân đoạn chưởng)


Đường vân xuyên suôi bàn tay là một đường vân tay rất đặc thù, đường trí tuệ và đường sinh mệnh chập lại làm một, vắt ngang bàn tay tạo thành một đường vân thảng xuyên suôt bàn tay (Hình 21-2). Những người có đường vân xuyên suôi bàn tay vận mệnh không giống nhau do đường vân tay và các yếu tố liên quan khác gây ra.


Ý nghĩa của đường vân xuyên suốt bàn tay:



Thể hiện tài trí siêu phàm.



Thể hiện năng lực quản lý.



Thể hiện dũng khí và tính sáng tạo.



Thể hiện sức mạnh.



Thể hiện sự tự tin và sự trân trọng đối với tình yêu.



Thể hiện những nhược điểm trong quá trình sinh trưởng và phát triển bẩm sinh.



Thể hiện quá trình phát dục bẩm sinh rất tốt.
Một số cách phân biệt đường vân xuyên suốt bàn tay:
* Đường vân xuyên suốt bàn tay thật (Hình 21-1)



Đần độn bẩm sính: Trí lực kém hoặc trống rỗng, loại người này ngón trỏ chỉ có hai đốt, một đường vân dài cắt ngang bàn tay. Mắt nhỏ và nhiều lòng trắng, lông mày rộng, chếch lên trên, miệng nhỏ và dầy, lưỡi ngắn (Hình 21-la).


Hình 21: Các đường vân xuyên suôi bàn tay






Khuyết tật phát triển bẩm sinh: Trí lực kém, mạo hiểm, cả đời làm lụng vất vả, cuộc đời trắc trở. Dấu hiệu thường thấy ở những người này là ngón giữa và ngón đeo nhẫn hình chiếc dùi, móng tay có hình tam giác ngược hoặc đường vân tay to, hoặc có đường vân hình chữ thập, dự báo những trở ngại trong quá trình phát triển của não và tim (Hình 21-lb.l).



Thiên tài: Chỉ số IQ rất cao, tư duy sáng tạo, có sức hấp dẫn kỳ lạ và tài quản lý xuất sắc, nhóm người này chu yếu là người phương Đông, nam giới nhiều hơn nữ giới (Hình 21-1C.2).


* Đường vân xuyên suốt bàn tay giả (Hình 21-2) (Hình 12, 18, 24 trang 7, 8, 9)



Người vừa có đường vân xuyên suốt bàn tay vừa có đường trí tuệ, thường là người mạnh dạn, trực giác rất nhạy cảm, có linh cảm, nhạy cảm trước cái đẹp, có tư chất nghệ thuật, giàu tính sáng tạo, tinh thần phóng khoáng, đây là bàn tay của chính tri gia, nghệ sĩ, nhà doanh nghiệp..., thường là những người có bàn tay hình cái dùi (Hình 21-2a) (Hình 25 trang 10).



Người có đường vân xuyên suốt bàn tay đồng thời xuất hiện đường tình cảm hình bình hành và hướng lên trên, thường là người có cá tinh, sức chú ý tốt, yêu ghét rạch ròi, có tài năng nghệ thuật, các nhà mỹ thuật thường có'kiểu vân tay này (Hình 21-2b) (Hình 25 trang 10).



Người có đường vân xuyên suốt bàn tay đồng thời đường tình cảm kéo dài đến gò Mộc tinh và đoạn cuối của đường tình cảm hướng xuống dưới, thường là người luôn sống vì quyền lợi của mình, có cá tính và sức hấp dẫn thu hút sự chú ý của người khác (Hình 21-2.c) (Hình 24 trang 9).



Người có đường vân xuyên suốt bàn tay, đồng thời có đường trí tuệ, đường tình cảm và đoạn cuối chia thành nhiều nhánh, thường là người có trí tuệ, có khả năng phần tích tốt, tay chân linh hoạt, có năng khiếu trên nhiều phương diện, đa tài đa nghệ, cái gì cũng quan tâm, và đều có hứng thú, khả năng thích ứng cao, biết cách dôì nhân xử thế (Hình 21-2.d) (Hình 12 trang 7).



Người có đường vân xuyên suốt bàn tay, đồng thời có hai đường sinh mệnh và hai đường tình cảm, thường là người có sức sống mãnh liệt, có khả nàng tự đề kháng cao, vô cùng thông minh, sự nghiệp phát triển, lạnh nhạt trong tình yêu, đặc biệt đôì với người tai nhỏ thì đặc điểm trên càng rõ nét hơn (Hình 21-2.e) (Hình 12 trang 7).


* Chú ý .


Gò Mộc tinh (gò gốc của ngón trỏ) ở đoạn cuối của đường tình cảm cong xuống dưới và nối với đường sinh mệnh, thường là người có tình yêu bao dung, độ lượng với mọi người, linh hoạt, không đối xử phân biệt với mọi người, giàu lòng đồng cảm, xót thương người đời, nhiệt tình trong các hoạt động công ích, nhạy cảm với những sự vật thần bí, có khả năng đọc được suy nghĩ của người khác, người xưa gọi là'“Đường dị nhân” (Hình 21-2-c).


Trong một lần đi tham quan viện bảo tàng dân tộc học, tôi gặp một cậu thanh niên, cậu ta nói rằng không ai có thế’ giải mã được mật mã trên bàn tay của cậu ta, nên cậu ta nhờ tồi xem giúp. Khi cậu ta giơ hai bàn tay ra, tôi liền nói với cậu ấy: “Đây là bàn tay của một người tài ba, có hai đường tình cảm, hai đường sinh mệnh, có đường vân xuyên suốt bàn tay. Không có đường vận mệnh, có thể


Hình 22: Ví dụ bàn tay của một người đàn ông có đường vân xuyên suốt bàn tay (bạc tình)





coi đường sinh mệnh ở phía trong là đường vận mệnh. Mặc dù cậu ta rất chuyên tâm nhưng lực bất tòng tâm, một bàn tay có nhiều đường vân đẹp nhưng không có đường vận mệnh thì cũng không làm lên việc lớn được. Nguyên nhân là do tỳ vị bất hòa, chức năng hấp thụ của đường tiêu hóa kém, nên gò Hỏa tinh bị lõm xuống, thời thanh niên mắc nhiều bệnh, ham muốn tình dục không cao, thường xuyên mất ngủ, nguyên khí không đủ. Mặc dù người có bàn tay như vậy sẽ rất trường thọ, nhưng đến giai đoạn 50-60 tuổi sẽ có một trận bạo bệnh do hệ thông đường ruột gây ra. Cậu ta hỏi: “Thế còn đường tình yêu?”, tôi thấy tai của cậu ta rất nhỏ, vành tai mỏng, tôi nói hai câu chỉ có 4 chữ, cậu ta gật đầu liên tục, mọi người yêu cầu công khai, nhưng cậu ta chỉ cười mà không nói ra. Ý nghĩa của 4 chữ đó không tốt, nhưng tôi đã nói cho cậu ta cách hóa giải. Những độc giả chuyên tâm cũng có thể đoán biết được 4 chữ đó.


Tông Thiên Sở, Nam, 41 tuổi, Giám đôc điều hành khách sạn



Hai bàn tay đều có đường vân xuyên suốt bàn tay, trong lòng bàn tay vẫn phân thành hai đường tình cảm và đường trí tuệ và có đường vân hình lông cánh, điều này cho thấy người này không chỉ
có tài năng trong lĩnh vực quản lý mà còn là người rất tinh tế, không chỉ thành công trong sự nghiệp mà còn rất hạnh phúc trong chuyện tình cảm.



Đường sự nghiệp của anh ta có điểm khởi đầu từ gò Nguyệt, cho thấy anh ta có mối quan hệ rộng và khả năng xã giao tôt, được bạn bè giúp đỡ, giúp cho anh ta thành công trong sự nghiệp.



Anh ta bắt đầu xa nhà mưu sinh từ năm 26-28 tuổi, có kiến thức rất tốt trong lĩnh vực kinh tế, điều này được thể hiện đường Thái dương, đường vận mệnh, đường bổ trợ cho đường vận mệnh (đường sức khỏe) giao nhau tại một điểm trên đường sự nghiệp.



Trên đường Thái dương xuất hiện một tập hợp đường vân tạo thành hình ngôi nhà, có nóc, có lan can (ngôi nhà vàng), cho thấy anh ta là người rất giàu về của cải, đường vận mệnh trên tay phải đâm thẳng vào gò Mộc tinh thì sự nghiệp của anh ta rất phát triển.



Trước 35 tuổi, sự nghiệp của anh ta hợp với hướng Tây Bắc, sau 40 tuổi sự nghiệp của anh ta hợp với hướng Đông Bắc. Trước 35 tuổi, anh ta hợp với công việc ở Trung Quốc và Bắc Âu, sau 40 tuổi hợp với những công việc ở miền tây Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ.



Hình 23: Đường vắt ngang bàn tay (kiểu quản lý)


Hiện tại anh ta đang làm giám đốc điều hành cho một khách sạn lớn ở Mỹ.



Định tính mật mã trên đường con cái


Khu vực, phương pháp quan sát và cách nói về đường con cái luôn có sự khác nhau, theo kinh nghiệm truyền thống của thuật tướng số í) hương Đòng thì đường con cái thường nằm trên mé bên gò của ngón út (gò Thủy .tinh).


Nắm bàn tay lại, khi đó có thể nhìn thấy đường vân ngang dài ngắn, thô mịn, nông sâu khác nhau ở phía ngoài gò Thủy tinh.



Tất cả những đường vân ngang dài, thô, sâu đều là dấu hiệu của việc sinh con trai.



Tất cả những đường vân ngang ngắn, nhỏ, nông đều là dấu hiệu của việc sinh con gái.



Muốn biết thụ được bao nhiêu thai nhi, có thể xem đường con cái ở hai tay, nếu có 3 đường vân thì thụ được 3 thai nhi, có 5 đường vân thì thụ được 5 thai nhi. Trường hợp số đường con cái ở hai tay không bằng nhau, thì thường lấy theo số ít. Ví dụ, tay trái có 5 đường con cái, có thê thụ được 5 thai, nhưng tay phải chỉ có hai đường vân con cái thì sô thai đậu được chỉ là hai tức người đó chỉ sinh được hai con, ba thai nhi còn lại có thể là sấy thai hoặc thai lưu.



Đường con cái quá ngắn và nông cho thấy người này có thể bị sẩy thai hoặc đẻ non.



Ớ đoạn đầu, giữa và cuối của đường con cái dài, ngắn, thô xuất hiện các dấu hiệu hình chữ Y, dấu hiệu ơ, dấu hiệu hình tròn có hai đường gạch dọc ở phía trên và phía dưới hình tròn, dấu hiệu gạch ngang phía trước dấu mũi tên nhổ hơn... cho thấy sức khỏe của con cái có vấn đề, dấu hiệu bệnh tật xuất hiện ở chỗ nào thì vị trí trên cơ thể tương ứng bị bệnh.





MẬT MÃ SINH MỆNH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu trữ thực tế đã giải đoán