HỆ THỐNG SONG GIẢI A-B
“Sinh mệnh tượng” của con người là sự tái hiện và phát triển những quy luật, nhịp điệu, mô thức sự sống của vũ trụ và mật mã vũ trụ, là tổng thể các yếu tố mà con người phải dựa vào để sinh tồn như môi trường thiên vàn địa lý, sinh lý, tâm lý, tình cảm, ý chí, nhân cách, quan hệ xã hội, cùng chứa đựng trong một “thể sinh mệnh”, đồng thời thể hiện ở “tượng sinh mệnh” bằng hai phương thức tiềm (ẩn) tượng và hiện tượng.
Do vậy, “tượng sinh mệnh” là biểu trưng của trạng thái cuộc đời, bao gồm trạng thái bình thường và biến thái. Trạng thái bình thường là tổng hợp những xu hướng có tính quy định trong đời sống con người, thể hiện ở đường vân tay, hình bàn tay, hình ngón tay, hình móng tay..., mang tính cố định tương đối không thể thay đổi, vì thế, dựa vào nó có thể xác định được kết cục của một đời người. Trạng thái biến thái là trạng thái phát sinh những biến đổi mang tính cục bộ do tác động ảnh hưởng của các hoạt động xã hội và các nhân tố tự nhiên. Thông thường, khi những hoạt động xã hội và các nhân tố tự nhiên không gây tổn hại đôi với trạng thái sinh mệnh của con người thì trạng thái bình thường không thay đổi, mậc dù gặp phải trở ngại, nhưng con người có thể vượt qua, chỉ xuất hiện những đường ngăn trở chứ không xuất hiện những dâu hiệu biến đổi ác tính. Nếu nhũng hoạt động xã hội và các nhân tố tự nhiên tác động gây tổn thương nghiêm trọng đối với trạng thái sinh mệnh sẽ khiến cho trạng thái bình thường bị nghịch chuyển. Cả hai kết quả trên là dấu hiệu dự báo trước, đều thế hiện trên đường vân tay, nếu được nhận biết kịp thời, người ta có thể phòng tránh được đại họa. Hai trạng thái của tượng sinh mệnh nêu trên là đại diện cho hai hệ thống sinh mệnh là “Nguyên thần” và “Thức thần”, hai vận mệnh là “chủ vận” và “thời vận”, hai trạng thái khỏe mạnh và bệnh tật, từ đó cho chúng ta thấy được mấu chót của vấn đề, cho biết cách phòng chống sự phát sinh nghịch chuyển nhằm có được vận mệnh tốt đẹp hơn.
Vì những nguyên nhân nêu trên, chúng tôi phân chia toàn bộ thông tin về “tượng sinh mệnh” của cuộc đời thành hai hệ thông là hệ thống A (hệ thống sức khỏe, sinh lý thể hiện ở sức sống) và hệ thống B (hệ thống xu hướng vận chuyển của đời người thể hiện ồ tinh thần, tình cảm, ý chí). Nhưng khi giải nghĩa, hai hệ thống này hòa hợp làm một, vì chúng tuân theo quy luật chuyển hóa âm dương.
Thấy được ý nghĩa của việc nhận thức được mật mã cuộc đời con người từ tượng sinh mệnh, chúng tôi đã xác định những mật mã sinh mệnh chính là đối tượng nghiên cứư. Mục đích của việc nghiên cứu là thông qua nhận thức về những mật mã này để xác định mối liên hệ của nó đối với sức khỏe tâm, sinh lý của con người. Làm rõ được mòi liên hệ này, tìm ra những chỉ tiêu lượng hóa, xác định hệ thông định vị, thì có thể tìm hiểu được trạng thái vận mệnh của con người qua những dấu hiệu khác nhau. Chúng tôi nghiên cứư trạng thái sinh mệnh theo phân loại: ngũ hình, tam chất; bộ phận đầu (gồm mặt, tai, mắt, mũi, lưỡi), bộ phận tay (gồm ngón tay, móng tay, bàn tay), hình dáng và đặc trưng của bộ phận chân; đặc trưng về hình thể và những yếu tố cục bộ như khí huyết, màu sắc, vân tay, dấu hiệu của những đối tượng người; trạng thái bình thường (trạng thái sung sức, khỏe mạnh) và trạng thái không bình thường (trạng thái suy yếu, bệnh tật) của các yếu tố hình, thể, khí, sắc, vân; cảm nhận ở những khu vực có bệnh trong cơ thể...trong đó, quan trọng nhất là hình dáng, dấu hiệu, vân tay và trạng thái màu sắc của khí huyết.
TỔNG LUẬN VỀ HÌNH DẠNG,
DẤU HIỆU, ĐƯỜNG VÂN TAY
Trên các bộ phận của cơ thể người như trán, tay (chủ yêu là năm ngón tay và lòng bàn tay), cổ tay, gan bàn chân đều có rất nhiều những đường vân, ký hiệu được tạo nên từ những đường nét khác nhau. Tay được lựa chọn làm đôi tượng nghiên cứu chủ yếu bởi ở bộ phận này có nhiều dấu hiệu, đường nét nhất và cũng thuận tiện nhất cho việc quan sát.
Tính chất bệnh tượng (triệu chứng bệnh) của các dấu hiệu trên bàn tay
Dấu hiệu bệnh lý tiềm ẩn: là những dường tròn, đường cong không hoàn chỉnh hoặc không khép kín (hình 1-1).
Dấu hiệu bệnh lý đang hình thành: Những đường tròn, đường cong không hoàn chỉnh khi đã khép kín tức là bệnh đã hình thành, triệu chứng bệnh sẽ xuất hiện, có ổ bệnh, hình tròn càng lớn thì ổ bệnh càng lớn, triệu chứng càng rõ nét, bệnh tình càng nghiêm trọng (hình 1-2).
Dấu hiệu bệnh lý cũ: là những hình thoi (hình 1-3), mức độ bệnh tình tùy thuộc theo kích thước to nhỏ của dấu hiệu.
Dấu hiệu bệnh lý phát triển mãn tính; được thế hiện bởi những hình vuông, hoặc hình dấu thàng #, hình vuông thể hiện tính ổn định tương đối, còn hình # báo hiệu bệnh có xu hướng phát triển lan rộng (hình 1-4).
Dấu hiệu bệnh viêm: thường có hình chữ “thập” 0 và hình chữ “mễ” (^), hình chữ “thập” là tương đối nặng, hình chữ “mễ” thì nhẹ hơn. Các chứng bệnh viêm và sốt cao do tác động của viêm nhiễm đều xuất hiện những nét giống hình chữ “mễ” nếu nóng trong, nhiệt độ khoảng từ 39-40°C thì hình (X) sẽ biến dạng thành hình giôhg như bông hoa tuyết, hoa mai (hình 1-5).
Dấu hiệu bệnh cũ tái phát: dấu hiệu của dạng bệnh lý này là những đường tròn hoặc cận tròn (hình 1-6), thường thây xuâi hiện nhiều ở những chứng bệnh thường gặp, phát bệnh nhiều như viêm đường ruột, dạ dày, viêm gan, viêm khí quản, viêm phổi...
Dấu hiệu bệnh viêm không khỏi: là những dấu hiệu xuất hiện khi các chứng bệnh viêm nhiễm lâu ngày không thuyên giảm (hình 1-7).
Dấu hiệu bệnh đột xuất (cấp tính): nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như T, X, +, • gắn bên trên, dưới hoặc ở giữa những nét thẳng đứng (hình 1-8) là báo hiệu những chứng bệnh xảy ra đột ngột ngoài dự tính.
Dấu hiệu bệnh nặng, nguy hiểm (biến chứng): xuất hiện những dấu hiệu phân bố trên một khoảng rộng, có giới hạn khu vực rõ ràng, các dấu hiệu như □, 0, #, •, o, *, X đồng thời xuất hiện và tạo thành những tổ hợp hôn hợp báo hiệu chứng bệnh nguy hiểm, nhiều chứng bệnh và có nguy cơ biến chứng, lây nhiễm rất nguy hiểm (hình 2-9).
Dấu hiệu bệnh ác tính: khi trên tay xuất hiện những vết ban màu nâu thì cần phải hết sức lưu ý, đó là dấu hiệu của một chứng bệnh đáng sợ, sắc tố của nó không đậm, lại xuất hiện ổ bệnh ở dưới da, sau khi dùng dao chích loại bỏ vẫn mọc ra. Màu sắc của các dấu hiệu này càng rõ thì bệnh càng nguy hiểm, ví dụ như có màu nước trà, màu xám thì rất nhiều khả năng là đang ở thời kỳ dầu của chứng bệnh ung thư, nếu có màu xám đen thì có khả năng đang ở thời kỳ giữa và cuối. Các chứng bệnh như bệnh lao, bệnh về hệ thống miễn dịch cũng thường xuất hiện những dấu hiệu này. Nếu các dấu hiệu ồ hình từ (1) đến (9) cùng đồng thời xuất hiện và kết thành những tổ hợp là báo hiệu bệnh tình rất nguy hiểm (hình 2-10).
Dấu hiệu suy giảm chức năng: Thường xuất hiện các dấu hiệu hình tam giác (A), hoặc kết hợp với hình thoi (ộ) thành -A-Ộ-, tổ hợp dâu hiệu này thường xuất hiện ở đốt thứ haĩ của ngón tay cái (khu vực thế hiện những triệu chứng bệnh về huyết quản, tim mạch). Các chứng bệnh như máu nhiễm mỡ (lượng cholesterol cao gây xơ cứng động mạch), trúng gió, tắc mạch máu, biếng ăn..thường xuất hiện các dấu hiệu này (hình 2-11).
Dấu hiệu bệnh lý bẩm sinh của các cơ quan nội tạng: thường xuất hiện những nét đứt gãy hoặc những đường khi liên tục khi đứt đoạn trên đường vân tay ở khu vực định VỊ các cơ quan tạng phủ (hình 2-12).
Các dấu hiệu bệnh lý khác: các dấu hiệu như hình ngôi sao, biến dạng của hình ngôi sao, hình hoa mai... là biểu thị sự biến đổi bất thường và phức tạp của bệnh tình (hình 2-13).
Những dấu hiệu bệnh lý nêu trên có tần suất xuất hiện cao. Đó là những điểm đặc trưng mang tính phổ biến mà chúng tôi đúc rút được khi quan sát rất nhiều ví dụ thực tế. Trong những thư tịch, sơ đồ hình vẽ có đề cập đến nội dung xem tay mà chúng tôi đã nghiên cứu thì ý nghĩa tượng bệnh của các dấu hiệu này khống được giải thích rõ ràng, thậm chí còn sao chép máy móc nội dung của nhau, thiếu những thực nghiệm thực tế nên không đáng tin cậy. Tuy nhiên, nếu như ban đầu không phân biệt rõ được ý nghĩa tượng bệnh của những dấu hiệu vân tay thể hiện bệnh lý thì không thể đi sâu thực hiện xét nghiệm lâm sàng được, khi đó, chỉ có thể’ nói đó là kinh nghiệm cá nhân, chỉ “cảm thấy như vậy”, không có ý nghĩa chỉ dẫn và không thuyết phục.
Những dấu hiệu khác nhau đó xuất hiện trên những đường thông tin khác nhau, việc nhận biết ý nghĩa của chúng trên những khu vực mệnh tượng cũng như trên bàn tay của mỗi người sẽ còn được giải thích kỹ hơn trong phần nội dung những ví dụ thực tế điển hình và hệ thông định tính của mật mã sinh mệnh ở phần sau của cuốn sách này, ở đây mới chỉ giới thiệu những nguyên tắc cơ bản.
Tên gọi các mật mã vân tay
Trong nội dung “tướng tay”, các đường vân tay có ý nghĩa rất quan trọng, thậm chí có thể nói các đường vân tay là tiêu chí để nhận biết mật mã cuộc đời, là những dấu hiệu chỉ rõ những thông tin về sinh mệnh một cách chính xác nhất và trực tiếp nhất. Do vậy, dó là chìa khóa để mở cánh cửa bí mật về đời người.
Lòng bàn tay có ba đường chính là đường sinh mệnh, đường trí tuệ và đường tình cảm; có mười bốn đường phụ gồm đường vận mệnh, đường phóng túng, đường thăng tiến, đường sức khỏe, đường thái dương, vòng kim tinh, vòng thổ tinh, đường viễn hành (đường đi xa), đường hôn nhân, đường phản kháng, đường trở ngại, đường ảnh hưởng, đường con cái và đường giải phẫu; lại có rất nhiều những đường trở ngại đặc thù, chúng tôi gọi đó là những đường đặc biệt (xem hình 3).
Về đại thể, ba đường chính có tính bẩm sinh, khi con người sinh ra đã có và suốt đời không thay đổi, chỉ sau khi tu luyện “khí hoá ý niệm” thành công thì mới có thể khiến cho ba đường chính này, nhất là đường sinh mệnh, tăng trưởng thêm chút ít, thế hiện trạng thái sinh mệnh được tàng cường. Những đường phụ (đường ở trạng thái “tiên thiên”, chưa chịu sự tác động ảnh hưởng của các nhân tố “hậu thiên”) trên bàn tay của mỗi người cũng là những đường có tính bẩm sinh, và sau này về cơ bản cũng không biến đổi. Duy nhất có biến động là ở chỗ có sự tăng lên hay giảm đi các đường trở ngại đặc biệt hay các đường trở ngại thông thường xung quanh ba đường chính và mười bốn đường phụ. Chúng thể hiện trạng thái gặp những trắc trở trong cuộc đời.
Từ việc quan sát rất nhiều những ví dụ thực tiễn, tôi nhận thức được rằng “mệnh người do thiên định”, trong đó, “mệnh” là hệ thống mã sự sống đã được lập trình, “thiên” là sự kết hợp giữa gen di truyền và những thông tin từ vũ trụ lớn, là nhân tố có trước phôi thai, trước khi con người được hình thành và sinh ra, không thể thay đổi, nếu phủ nhận điều này tức là đã phủ định trạng thái đặc thù của chính sinh mệnh, phủ định sứ mệnh đặc biệt của chính mình. Mỗi một con người được sinh ra đều mang theo sứ mệnh.
Con người thường hay lẫn lộn về trạng thái gốc của những đường chính và đường phụ trên lòng bàn tay, không nhận ra sự phân biệt giữa chúng với hai loại đường trở ngại, từ đó dẫn đến những quan niệm sai lầm như “các đường vân tay là bất biến trong suốt cuộc đời”, hoặc “các vân tay không ổn định, liên tục thay đổi”...
Những đường gốc chính và phụ thể hiện “trạng thái bản mệnh” của “Nguyên thần”. Hai loại đường trở ngại là thể hiện “trạng thái thời vận” của “Thức thần”. Hai cái kết hợp với nhau tạo nên vận mệnh của đời người, do vậy mới có hai hệ thông A và B của sinh mệnh con người; hai hệ thống điều khiển vận mệnh của con người cũng là khoa học về tín hiệu thông tin về cuộc đời. Đó chính là một trong những điểm đặc trưng khác biệt trong nội dung của “khoa học về mật mã cuộc đời” của Thiệu Vì Hoa.
* Một số trường hợp cấn dặc biệt lưu ý:
Đường thẳng vuông góc chạy từ gò nhỏ bên trên cắt qua đường tình cảm đi xuống bên dưới (a), hoặc đường hình cong cánh cung cắt qua gò Nguyệt (b) được gọi tên là đường thần bí. Đường thần bí này thường bắt đầu từ phía trên gò Hỏa tinh thứ hai, chạy chéo xuống phía dưới gò Nguyệt (c). Những người mà trên bàn tay có đường thần bí sẽ có khả năng quan sát khác thường, thích tìm hiểu, khám phá những sự vật, hiện tượng thần bí, rất thấu hiểu tâm tư tình cảm của người khác, giác quan thứ sáu rất nhạy cảm, thường có xu hướng dựa vào linh cảm, trực giác, ý thức đột phát để quyết định hành vi. Với khả năng quan sát cực kỳ tinh tế, trong một thời gian ngắn có thể cảm nhận được tâm lý và ý đồ của đôi phương, có khả năng truyền cảm ý niệm. Mô thức tư duy của họ là tư duy giác ngộ (hình 4).
ơ giữa lòng bàn tay, trên đường vận mệnh nằm giữa đường trí tuệ và đường tình cảm có một đường vân hình chữ “thập” (+), gọi là đường linh cảm, hay còn gọi là đường giác quan thứ sáu (d). Những người trên lòng bàn tay có đường vân này thì giác quan thứ sáu sẽ rất phát triển, có một khả năng đặc biệt về dự đoán, tiên tri. Những cảnh tượng mà họ gặp trong những giấc mộng, những ý thức đột phát thường trở thành hiện thực.
Trên gò Hỏa tinh ở ngay phía dưới ngón tay trỏ có đường vân hình (+) hoặc hình (*), cũng gọi là “đường linh cảm” (e), có ý nghĩa giống với đường vân hình (+) ở giữa lòng bàn tay đã nêu trên, thuộc về dạng người khai phá1:
Bên dưới ngón vô danh (hay còn gọi là ngón áp út) trên lòng bàn tay có một đường ngang, gọi là “đường thiên mục” (đường mắt trời) (í), những người sở hữu đường vân này sẽ rất dễ có được những khả năng đặc biệt.
Tất cả những đường vân tay nêu trên đều có một tên gọi chung là đường thần bí, những người nào có một trong những đường thần bí đó trên lòng bàn tay, dù là bàn tay trái hay bàn tay phải, đều sẽ có những khả nàng đặc biệt. Họ thường có khuynh hưóng thích tìm hiểu, khám phá những sự vật, hiện tượng mang tính huyền bí, họ đều sở hữu một tài trí phi thường, những kiến giải độc đáo, có khả năng nhìn thấy trước sự việc, thích tạo ra được những phát minh mang tính sáng tạo, một khi họ bắt tay vào làm việc, nghiên cứu sẽ dễ đạt được những thành công và có những cống hiến to lớn.
3. Định tính mật mã cuộc đờỉ của những đường vân đặc biệt
Những đường vân tay đặc biệt là những dấu hiệu được hình thành khi trạng thái sống của con người bị tác động, kích thích bởi những nhân tố bên ngoài, khiến cho thần kinh đại não, trường khí và chân khí toàn thân gặp phải, những trở ngại, từ đó tác động lên hệ thông mật mà sinh mệnh làm biến đổi một tổ hợp mật mã nào đó. Cũng có thể do quá trình vận hành của trạng thái sống nội tại gặp trở ngại, khiến cho mã sinh mệnh biến đổi kết cấu vốn có, gây ra những triệu chứng bệnh biến.
Những đường vân hình đảơ, hình mắt (có hình dạng gần giống những đảo nhỏ và con mắt): A. Những dấu hiệu ổ bệnh biến đổi ác tính gây trở ngại đến các chức năng, hoặc đã hồi phục cục bộ nhưng chưa loại bỏ được tận gốc; B. Ác tướng (tướng xấu), có trở ngại. (A tức là hệ thông A, B là hệ thống B).
Những đường vân hình (+), hình (X): A. Những trở ngại chức năng mang tính giai đoạn, những triệu chứng dự báo trước; B. Thiện tướng (tướng tốt), những đường thần bí xuất hiện ở giữa lòng bàn tay, giữa đường trí tuệ và dường tình cảm, và bên dưới gò Mộc tinh thì ý nghĩa càng rõ.
Những đường vân hình (*), hình (^): A. Những bệnh lý mang tính dột phát, triệu chứng viêm; B. Thiện tướng, những đường vân có ý nghĩa may mắn, cho biết sẽ gặp vận may ngoài ý muốn, xuất hiện ở gò Mộc tinh, gò thái dương, gò Thủy tinh, trên đường trí tuệ thì ý nghĩa càng rõ.
Những đường vân hình (A): A. Dấu hiệu bệnh tình đang biến đổi theo chiều hướng xấu, gây trở ngại nghiêm trọng đến các chức năng; B. Thiện tướng, thể hiện tài trí.
Những dường vân hình sao tam giác (hình dáng giống như hình tam giác nhưng có tua ở ngoài): A. Dấu hiệu bệnh tình hồi phục, đại nạn đã được giải thoát, hóa nguy thành an; B. Những đường vân may mắn, cát tinh chiếu rọi, trong họa có phúc, nếu xuất hiện trên đường vận mệnh, đường thái dương, đường hôn nhân thì ý nghĩa càng rõ.
Những đường vân hình lưới, hình carô: A. Do chức năng bị suy thoái, bệnh tình càng nặng hơn hoặc trạng thái bệnh diễn biến chậm, không biến chuyển; B. Ác tướng, vợ chồng bất hòa, suy giảm về khả nàng tình dục, nếu xuất hiện ở gò Kim tinh, gò nguyệt tinh thì ý nghĩa càng rõ.
Những đường vân hình tròn (bao gồm cả hình tròn, hình oval khép kín hoặc đứt đoạn): A. Những dấu hiệu đầu tiên của sự biến dổi theo chiều hướng xấu của bệnh tật; B. Ác tướng.
Những chấm đen, vết ban: A. triệu chứng bệnh ác tính nghiêm trọng, nếu xuất hiện trên đường sinh mệnh hoặc ở cuối đường sinh mệnh thì ý nghĩa càng rõ, có triệu chứng bệnh lý ở hệ thông miễn dịch, triệu chứng bệnh ung thư; B. Ác tướng, xảy ra những biến cố bất ngờ, không kịp đề phòng.
Những đường vân hình tứ giác, hình thoi (được hình thành bởi những đoạn ngắn): A. Triệu chứng bệnh lý cũ, đang phát triển theo chiều hướng xấu hơn, có đại nạn nhưng có thể được giải cứu, thể hiện ý nghĩa được bảo vệ, nếu xuất hiện trên đường sình mệnh thì ý nghĩa càng rõ; B. Cực hung hiểm tướng (rất xấu và nguy hiểm), có họa lao ngục, tù đày, gặp tai nạn lớn liên quan đến tính mạng, bị sốc nặng, khó có thể khắc phục, nếu xuất hiện trên đường vận mệnh, đường hôn nhân thì ý nghĩa càng rõ.
Những đường vân hình tứ giác, hình thoi (hình dạng giống như hình tứ giác, hình thoi nhưng phía ngoài kéo dài thêm); Bệnh tật hình thành, hoặc được giải thoát khỏi đại nạn, hung hiểm. Cả hai hệ thông A và B đều có ý nghĩa như vậy.
Những đường vân hình (#): A. Trở ngại chức năng nghiêm trọng; B. Gặp trở ngại có thể khắc phục.
Những đường vân hình cá: A. Có ý nghĩa giống như trường hợp của những đường vân hình đảo; B. Thể hiện vận may, thời vận tốt.
Những đường vân tay hình lông vũ (cuối đường vân có những nhánh nhỏ trông giống như hình lông vũ): A. Thể hiện chức năng suy yếu, nếu xuất hiện ở ba đường vân chính thì ý nghĩa sẽ càng rõ; B. Chủ thể có khuynh hướng suy yếu, xuông dốc.
Đường vân hình lông vũ hướng lên trên (đường vân chính phân ra các nhánh nhỏ hướng lên trên, nhìn nghiêng giông như hình lông vũ): A. Đường vân chính thế’ hiện trạng thái chức năng được tăng cường, nếu xuất hiện ở ba đường chính sẽ càng rõ nghĩa; B. Đường vân có ý nghĩa may mắn, chuyển vận thăng tiến, tiếp tục khai vận.
Đường vân hình lông vũ hướng xuống dưới (đường vân chính phân ra các nhánh nhỏ hướng xuống dưới, nhìn nghiêng giống như hình lông vũ): A. Đường vân chính thể hiện một chức năng nào đó bị suy yếu; B. Trạng thái suy yếu, tinh lực không đủ.
Đường vân bị chẻ nhánh (cuối đường vân bị chẻ thành hai nhánh, ba nhánh hoặc bốn nhánh nhỏ): A. Tăng cường trạng thái sống mà đường vân dó thể hiện; B. Có ý nghĩa may mắn, thể hiện năng lực hoạt động, năng lực xã giao tốt, nếu xuất hiện ở ba đường vân chính, đường vận mệnh càng rõ ý nghĩa.
Đường vân hình chuỗi dây'xích: A. Làm giảm chức năng vốn có của đường chính, trạng thái sức khỏe không tốt, thể chất quá mẫn cảm; B. Thiếu kiên nhẫn, ý chí yếu, sức sông kém, thần kinh không vưng, dê bị rung động, nếu xuất hiện ở ba dường vân chính sẽ càng rõ nghía.
Đường vân hình lượn sóng, hình rắn bò: A. Thế’ hiện tượng bệnh nguy hiểm, các triệu chứng bệnh về huyết quản, tim mạch có dấu hiệu biến đổi theo chiều hướng xấu; những người uông nhiều rượu gây tổn hại gan sẽ xuất hiện những đường vân hình lựựn sóng ở đường sức khỏe; B. Tâm tính không ổn định, hay thay đổi, nếu xuất hiện trên đường tình cảm thì ý nghía càng rõ; tư duy hoạt bát, nhanh nhẹn, nếu xuất hiện trên đường trí tuệ sẽ càng rõ.
Đường vân có dạng những đường thẳng bị đứt gãy ở giữa: A. Dấu hiệu biến đổi theo chiều hướng xấu của trạng thái sống mà đường vân đó thể hiện, chỗ bị đứt gãy thể hiện năm hạn hoặc một bộ phận, giác quan nào đó phát sinh bệnh tật; B. Ác tướng, vận thế xuất hiện trở ngại, thay đổi phương hướng cũ, không thể tiếp tục duy trì trạng thái trước đây, dổi nghề, có biến dộng lớn, nếu xuất hiện trên ba đường chính và đường vận mệnh sẽ càng rõ nghĩa.
Đường vân có dạng gấp khúc và đứt gãy ở giữa: A. Dấu hiệu thay đổi theo chiều hướng xấu; B. Hung hiểm tướng, ác vận.
Đường vân có dạng giả đút gãy (a. Tuy bị đứt gây ở giữa nhưng ở bên cạnh hoặc ở cả hai bên có một đường vân khác chạy song song “kết nối” hai đoạn đứt gãy; b. Tuy đứt gãy ở giữa nhưng hai đầu tạo nên thế song song với nhau; c. Tuy đứt gãy ở giữa nhưng tại chỗ đớt gãy có một đường vân ngắn như một nét ngang có tác dụng gắn kết): A. Chức nàng mà đường vân đó thể hiện thay đổi theo chiều hướng xấu, nếu là đường thẳng bị đứt gãy thì ở mức độ nhẹ, trong giai đoạn ấy tuy có bệnh lý nhưng sẽ tự khỏi, không gây nguy hiểm đến tính mạng; B. Nếu là trường hợp (a), thể hiện sự nhẫn nại, ý chí ngoan cường, (b) có quý nhân phù trợ, (c) thể hiện thường xuyên biến động, tâm tính bất định, không kiên trì.
Với những trường hợp đường vân có dạng đứt gãy nêu trên, nếu chỗ đứt gãy càng rộng tức là thời gian càng dài, mức độ nguy hiểm càng lớn, cả hai hệ thống A và B dều như vậy.
Các trường hợp khác: còn có một số đường vân có hình dạng đặc biệt, nhưng do tần suất xuất hiện quá ít nên không giới thiệu riêng từng trường hợp. Tuy nhiên, có nhiều dạng là biến thể hoặc gần trùng khớp với những dạng nêu trên, ý nghĩa của nó sẽ bao gồm nhiều chức năng của đường vân hợp thành hoặc được tống cường hơn hoặc suy yếu hơn.
* Lưu ý
Ý nghĩa của các ký hiệu và các đường vân tay trên sơ đồ hình 7-A:
Trên gò Mộc tinh xuất hiện các vết ban màu đổ là dấu hiệu của bệnh gan nóng; nếu sắc đỏ thậm là dấu hiệu của bệnh viêm gan, vết ban có màu nâu nhạt là dấu hiệu xuất hiện những ổ bệnh cũ (tay trái); phía trên đường sinh mệnh xuất hiện những ký hiệu giống như hình hạt táo là dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mỡ giai đoạn đầu (tay phải), ký hiệu dạng hình hạt hạnh nhân là dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mờ giai đoạn giữa (tay phải); ở giữa gò Mộc tinh hơi lệch xuống bên dưới một chút xuất hiện những đường vân hình đảo, hình thoi, hình lưới carô, hình #, hình chữ “điền” (ffl) ... là dấu hiệu của bệnh viêm túi mật hoặc bệnh sỏi mật; nếu trên một bên của ngón tay trỏ (ở mặt bên phía ngón tay cái) xuất hiện nhũng vết ban màu nâu đậm với những hình dạng và kích thước nhỏ to khác nhau là dấu hiệu của bệnh sổi mật, nếu các vết ban có kích thước nhỏ và mật độ dày kết thành một dải hoặc một đám là dấu hiệu của hiện tượng sỏi cám. Quan sát móng tay của ngón tay trỏ, nếu thây có đường rãnh nhỏ, chứng tỏ hệ thống gan, mật có triệu chứng viêm. Nếu trên ngón tay trỏ xuất hiện mụn nước là dấu hiệu vai và lưng bị phong hàn. Các đường vân có dạng hình (+), hình (*) là dâu hiệu của các chứng bệnh như cao huyết áp, đau đầu, chóng mặt (xem 7A-12).
Trên gò Thổ tinh xuất hiện những nét vân thẳng đứng chạy song song nhau là dấu hiệu của các chứng bệnh như mất ngủ, hay mộng mị, làm việc quá sức, suy nghĩ nhiều. Nếu dùng đầu ngón tay ấn vào hai bên gốc ngón tay, cũng tức là hai bên gò Thổ tinh sẽ có cảm giác hơi nhói đau như bị kim chích, tức là biểu hiện của chứng mất ngủ; nếu trên các đường dọc hoặc ngang xuất hiện ký hiệu (x) là dấu hiệu của hiện tượng trúng gió; nếu có các đường vân hình thoi xuất hiện ở giữa phần tiếp giáp của gốc ngón tay trỏ và gốc ngón giữa, hơi lệch xuống phía dưới một chút, tức là cuối của đường tình cảm, là dấu hiệu của bệnh cao huyết áp, trúng phong, thường xuất hiện nhiều ở người già (xem 7A-2).
Trên gò Thái dương xuất hiện những mụn nước là dấu hiệu của chứng bệnh đau vai, đau lưng, viêm bả vai hoặc những bệnh lý ở phổi; nếu là những ký hiệu có dạng như đầu mũi tên, hình tròn, hình thoi có các sọc kẻ dọc hoặc vết ban màu nâu, chứng tỏ mạch máu não có vấn đề khá nghiêm trọng; phía trên đường tình cảm, ở đoạn này, xuất hiện những đường vân hình đảo, hoặc ở hơi lệch xuốhg một chút, tức là ở chỗ giao nhau giữa đường vận mệnh và đường trí tuệ, xuất hiện những đường vân có dạng hai hình tam giác chồng lên nhau là dấu hiệu của bệnh đau mắt (xem 7A-10); nếu đường tình cảm bị đứt đoạn là biểu hiện tính cách hơi cổ quái, thích gây chuyện, hay nóng giận vô cớ (xem 7A-3). Nếu trên ngón giữa và ngón áp út thấy có hiện tượng mạch máu hơi thâm là biểu hiện tuần hoàn máu không tốt; nếu thấy có màu nâu đậm là dấu hiệu trong máu thiếu ôxy. Những biểu hiện trên đều là dấu hiệu bệnh lý của mạch máu não, các chứng viêm toàn thân, sốt cao...(xem 7A-13,14).
Hình 7-A: Định vị các mật mã bệnh biến đặc biệt trên bàn tay của Thiệu Hoa Từ
Gò Thủy tinh là bộ phận có liên quan đến chức năng tình dục, liên quan dến các bệnh lý về thận, bộ phận sinh dục, bàng quang, niệu đạo...Trên đường tình cảm xuất hiện đường vân hình đảo dâu hiệu của những trắc trở trong tình yêu và hồn nhân, nếu xuất hiện đường vân hình thoi là dâu hiệu của những trắc trở về tình cảm khó khắc phục; nếu đường tình cảm có dạng chuỗi dây xích và đứt đoạn thể hiện tinh thần bất định, khó tập trung; bên dưới đường tình cảm xuất hiện đường ngang là dấu hiệu của hiện tượng tự khép kín tình cảm, trầm uất, hay nghi ngờ, lại có lòng ham muỏn chiếm hữu mạnh mẽ. Trèn gò Thái dương và gò Thủy tĩnh xuất hiện ký hiệu có dạng -<>- là dâu hiệu của bi kịch hôn nhân, tình cảm trông rỗng, nếu chỉ xuất hiện ký hiệu -< hoặc >- cũng là biểu hiện của tình trạng hôn nhân không hạnh phúc, nhưng chỉ là tạm thời ly thân, có cuộc sống riêng (xem 7A-3, 4). Trên ngón tay út xuất hiện đường gân xanh hoặc mạch máu có màu nâu đậm là dâu hiệu của hiện tượng máu thiếu ôxy (xem 7A-15).
Gò Hỏa tinh thứ hai là khu vực có liên quan đến các bộ phận cơ thế như bụng trên, bụng dưới, ngực và phổi, các dấu hiệu xuất hiện ở khu vực này trên lòng bàn tay nên kết hợp với những nội đung ở mục (4), ví dụ như nếu trên gò Thủy tinh và gò Hoả tinh thứ hai đều thấy xuất hiện thì có nhiều khả năng là dấu hiệu của những chứng bệnh ác tính có liên quan đến chức năng của thận, có thể là bị trướng nước, toàn thân phù thũng (tay phải). Nếu xuất hiện đường vân dạng như mạng lưới là biểu hiện chức năng bị suy thoái, có khả năng liên quan đến chức năng của đại tràng, nên đồng thời quan sát thêm các dấu hiệu xuất hiện ở khu vực liên quan đến đại tràng để xác định chính xác hơn (xem 7A-8). Các dấu hiệu xuất hiện ở khu vực này nên kết hợp với nội dung ở mục (6) để xác định, thường có các bệnh lý liên quan đến chức năng của hệ hô hấp, ruột non (đoạn ruột rỗng, ruột cong), tá tràng, dạ dày (xem 7A-5).
Nếu trên đường vân thẳng bên ngoài vành gò Nguyệt xuất hiện đường vân hình đảo là dấu hiệu của chứng bệnh mộng du. Trên gò Nguyệt xuất hiện đường vân dạng mạng lưới, sọc carô là biểu hiện của khả năng tình dục giảm. Phía bên dưới xuất hiện ký hiệu như -ô- là biểu hiện chức năng của phổi suy yếu, thường xuyên tái phát. Nếu xuất hiện những đường vân hình tròn, hình (+), hình (^), hình (*) là biểu hiện eủa các chứng bệnh viêm phổi, viêm khí quản với các mức độ khác nhau (xem 7A-6).
Gò Địa có tính chất tương đồng với gò Thủy tinh. Đường cong hình cánh cung phía trên gò Địa là đường phóng túng, tất cả những ham muốn, sở thích quá độ, ví dụ như uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá, ma tuý, quan hệ tình dục quá nhiều... đều được biểu hiện bởi dường cong này, đó là biếu hiện của những bệnh lý mang tính trúng độc, chức năng của hệ thống miễn dịch gặp trở ngại. Nếu ở chính giữa gò Địa xuất hiện đường vân hình đảo, hình thoi là những dấu hiệu bệnh lý của hệ sinh dục, hệ tiết niệu; nếu trên những đường ngang đôì xứng ở hai bên gò Địa xuất hiện thêm những ký hiệu hình oval, hình thoi thì nên chú ý đến nhửng triệu chứng của buồng trứng, ông dẫn trứng, tinh hoàn. Đường vân dạng hình bông, hình tua phía bên trên đường sinh mệnh là dấu hiệu thận khí bị hư tổn, thể hiện tinh lực suy thoái (xem 7A-7).
Những dấu hiệu trên gò Kim tinh có liên quan đến các bộ phận như eo, gối, đùi, nếu đường sinh mệnh bị đứt đoạn ở khu vực gò Kim tinh, lại thấy xuất hiện đường giải phẫu, đó là biểu hiện liên quan đến chấn thương bên ngoài, gãy xương; nếu đường sinh mệnh tại gò Kim tinh có những đường vân hình đảo, hình thoi, hoặc phía bên ngoài gò, sát với ngón tay cái, xuất hiện đường vân hình đầo, hình thoi, hình (#) là dấu hiệu có liên quan đến các chứng bệnh ở gối, đùi, xương sống ở vùng thắt lưng, xương cùng, xương chậu, xương cụt, khi ấn vào có cảm giác đau nhói. Phía bên dướkgò Kim tinh liên quan đến lá lách, nếu ở khu vực này xuất hiện những vết ban màu đỏ hoặc màu nâu nhạt là biểu hiện chức năng của lá lách bị suy yếu, nếu khu vực này bằng phảng (thông thường, khu vực này hơi nhô cao, đầy đặn), lại có đường gân xanh từ cổ tay chạy qua là biểu hiện của sự bất ổn ở lá lách và dạ dày, tiêu hóa không tốt, thể lực suy giảm, hay có cảm giác mệt môi. Đoạn giữa của khu vực này, sát với đường sinh mệnh liên quan đến đường ruột, nếu thấy xuất hiện hình đảo, hoặc bị đứt đoạn là biểu hiện của triệu chứng ruột kết và những triệu chứng bệnh lý ở đoạn ruột non. Khu vực gần với vùng trung tâm của gan bàn tay liên quan đến dạ dày, tá tràng, tuỵ và ruột non. Nên tham khảo sơ đồ 43, căn cứ theo tượng bệnh để xác định các vị trí bệnh cụ thể. Phía bên ngoài đoạn giữa của gò Kim tinh là khu vực liên quan đến cơ quan hô hấp, nếu thấy xuất hiện các đường vân hình (^) và các vết ban màu đỏ là biểu hiện viêm các bộ phận của cơ quan hô hấp, theo thứ tự từ dưới lên trên là phổi, khí quản, họng, mũi. Ở khu vực số 2, phía trên đoạn cuối của đường tình cảm thấy xuất hiện một đường chéo, hoặc vòng Kim tinh ở khu vực này bị đứt đoạn là biểu hiện thể chất quá mẫn cảm (xem hình 7A-2, tay phải), rất dễ mắc các chứng viêm mũi, hen suyễn, viêm khí quản, viêm phổi (xem 7A-8).
Những dấu hiệu xuất hiện trên gò Hỏa tinh thứ nhất thể hiện các chức nầng của đường hô hấp và dạ dày. Ở khu vực giao nhau giữa đường sinh mệnh và đường trí tuệ xuất hiện hình chữ A, nối liền với hình đảo, hai bên hình chữ A bị đứt đoạn là dấu hiệu chức nàng hô hấp yếu, thường xuyên có hiện tượng nóng phổi, mỗi khi gặp gió lạnh sẽ rất dễ bị cảm lạnh, viêm nhiễm đường hô hấp. Đoạn đường sinh mệnh ngay phía dưới khu vực này bị đứt đoạn, hoặc có những đường vân dọc là biểu hiện bị nóng ruột, táo bón (xem hình 7A-8, 9, tay phải). Bên dưới gò Hoả tinh thứ nhất xuất hiện đường vân dạng lưới, Ộ-O- thì nên xem xét đến chức năng nội bài tiết và tình trạng của lá lách. Ký hiệu hình thoi xuất hiện phía trên hình chữ A là tượng bệnh về dạ dày (xem 7A-9).
Khu vực minh đường, nội lao cung là trung tâm mệnh tượng của con người, hay còn gọi là mệnh môn. Huyệt nội lao cung là mệnh môn trung đan điền, có liên quan đến hoạt dộng của tim và việc cung cấp máu và ôxy đi khắp cơ thể.
Đốt ngón tay thứ hai của ngón tay cái có liên quan đến tâm thất và tâm nhĩ, các dấu hiệu xuất hiện ở khu vực này thể hiện triệu chứng bệnh động mạch vành, cần phải hết sức luư ý, không thể chủ quan. Nếu ở khu vực này xuất hiện những vết nhăn, ấn vào thấy cảm giác đau nhói là dấu hiệu của chứng đau nửa đầu, tắc mạch máu cục bộ, mạch máu não bị xơ cứng...
Đốt thứ nhất của ngón tay cái xuất hiện đường vân hình đảo, còn được gọi là “mắt Khổng Tử” được coi là dấu hiệu của trí thông minh xuất chúng. Thực ra, đó cũng là dấu hiệu liên quan đến các triệu chứng bệnh về mạch máu não, kết hợp với nội dung ở mục (11) để xét đoán (xem 7A-11).
* Lưu ỷ
Hệ thống mật mã vân tay trên lòng bàn tay được phân thành hai hệ thống A và B. Hệ thống A thể hiện trạng thái sức khỏe, hệ thống B thế hiện vận thế. Vận thế của đời người có tốt, có xấu, dưới đây xin giới thiệu các ký hiệu có ý nghĩa may mắn tại các vị trí khác nhau trên lòng bàn tay.
Gò Mộc tinh thế’ hiện mức độ thành công trong sự nghiệp, những ký hiệu hình (*), (+), (#) và hình đầu mũi tên đều là biểu hiện của sự thành công lớn trong sự nghiệp. Các ký hiệu trên càng rõ, kích thước càng lớn thì mức độ thành công càng lớn, vị thế, uy tín càng cao, nếu các ký hiệu này xuất hiện phủ kháp khu vực gò Mộc tinh là biểu hiện của một tài năng kiệt xuất. Gò Mộc tinh chủ “văn”, nên những người có những đặc điếm nêu trên chủ yếu là những học giả, nhà nghiên cứu xuất chúng về lĩnh vực khoa học xã hội (hình 7B-1).
Trên gò Thổ tinh xuất hiện những đường vân hình ngôi sao năm cánh, là dấu hiệu được cát tinh soi chiếu trong sự nghiệp, sẽ đạt được những thành công huy hoàng (xem 7B-2).
Trên gò Thái dương cổ đường vân hình (*) thể hiện khả nâng xuất sắc trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý tài chính, khả nâng thành công trong sự nghiệp rất cao (xem 7B-3).
Trên gò Thủy tinh xuất hiện hình (*), hình (#) là biểu hiện của ý thức kinh doanh mạnh mẽ, hoặc là dấu hiệu có một cuộc hôn nhân mỹ mãn (xem 7B-4).
Trên gò Hỏa tinh thứ hai xuất hiện những đường vân có ý nghĩa may mắn là dấu hiệu sẽ có quý nhân phù trợ về tiền bạc (xem 7B-5).
Trên gò Nguyệt xuất hiện đường vân hình cá báo hiệu có niềm vui bất ngờ, nếu xuất hiện hình chữ Y là dấu hiệu được đối tượng khác giới yêu thích, theo duổi; nếu xuất hiện đường vân hình tròn lượn xoắn là biểu hiện có mối quan hệ tốt đẹp với những thành viên trong gia đình, đường vân đó còn được gọi là đường “gia nhân hoàn”; nếu đường sinh mệnh có nhánh nhỏ tách ra, xuyên qua gò Địa đến gò Nguyệt, ở đầu lại có hình (*) là biểu hiện gặp dược niềm vui bất ngờ trong chuyến đi xa, có duyên kết giao bạn bè ( xem 7B-6).
Hình 7-B: Định vị các mật mã bệnh biến đặc biệt trên bàn tay của Thiệu Hoa Từ (tiếp)
Đường đi xa càng dài là biểu hiện càng cách xa gia đình, ví dụ như ở hình 7B-7 là đi sang nước ngoài, nếu ở bàn tay trái là đi theo hướng Đông Nam, trên bàn tay phải là đi theo hướng Tây Nam (lấy nơi sinh hoặc trú quán làm chuẩn để xác định phương hướng).
Trên gò Kim tinh xuất hiện những ký hiệu khác giới là dấu hiệu có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân, chủ yếu là bị đối phương chủ động tấn công, cả nam và nữ đều như vậy (xem 7B-8).
Trên gò Hỏa tinh thứ nhất xuất hiện đường vân hình (#), gò Kim tinh hơi nhô cao, gò Nguyệt, gò Thủy tinh đầy đặn là biểu hiện của nhu cầu tình dục cao (xem 7B-9).
ở khu vực minh đường xuất hiện hình ngôi sao năm .cánh là dấu hiệu gặp nhiều thuận lợi trong sự nghiệp. Nếu đường sự nghiệp giao-nhau với đường thái dương và đường thủy tinh thì càng rõ nghĩa (xem 7B-10).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét