Khu vực phía dưới gò Địa, gò ngón cái ở trên đường vân của cổ tay, phía dưới của gò Nguyệt và lấy gò Địa làm trung tâm là vị trí tượng trưng cho hệ sinh dục. Tất cả nhừng dấu hiệu trên đường trục giữa đều tượng trưng cho tạng phủ.
Phía dưới gò ngón giữa là vị trí tượng trung cho phổi, khoảng ngực của hai lá phổi trái và phải đều nằm ở vị trí này, khu vực khí quan hô hấp của ngón cái ở tay trái thể hiện vị trí của phổi và khí
Hình 43: Định vị mật mã sinh mệnh chẩn đoán lòng bàn tay của Thiệu Hoa Tử (tiếp)
quản bên phải. Phía dưới gò Nguyệt là vị trí tượng trưng cho toàn bộ lá phổi, nhưng thể hiện chức năng của lá phổi bên phải cơ thể, vị trí tượng trưng cho phổi ở tay phải và trên đường sinh mệnh đối diện cũng có ý nghĩa tương tự.
Dấu hiệu tim trên đường sinh mệnh tượng trưng cho khu vực của tim, phía trên gò ngón cái là tim, đều đối ứng với vị trí đốì lập trên cơ thể.
VỊ trí của dạ dày, đoạn đầu ruột non nối với ruột già, tụy và túi mật, gan thận đều thuộc một loại, nhưng bàn tay trái tượng trưng cho lá gan phải, bàn tay phải tượng trưng cho lá gan trái.
VỊ trí bài tiết, tiêu hoá của dạ dày và ruột trên đường trục giữa đối ứng với đường sinh mệnh.
Hình vẽ trên mặc dù chỉ là hình vẽ giản lược nhưng nó có ý nghĩa rất lớn đối với thao tác thực tế trong quá trình xem tay chẩn đoán bệnh. Căn cứ vào hình vẽ trên có thể chẩn đoán được các bệnh chủ yếu của lục phủ ngũ tạng. Kết hợp với hình vẽ định tính về diễn biến của bệnh và quy luật thông thường của mật mã cùng với đại lượng biến đổi và định lượng của mật mã sinh mệnh trên khuôn mặt và bàn tay, có thể thấy được rất nhiều thay đổi chi tiết. Thực tiễn càng nhiều thì quan sát càng tỷ mỷ, càng chẩn đoán dược nhiều bệnh. Nếu chịu khó suy nghĩ, biết tổng kết, rút ra bài học thì càng tiến bộ nhiều hơn trong lĩnh vực xem tay chẩn đoán bệnh.
* Chú thích đặc biệt
Mật mã linh cảm hay còn gọi là đường vân thần bí, đường linh cầm, đường vân thể hiện ý thức siệu phàm, đường trực giác, đường Thiên mụ... ý nghĩa tượng trưng thể hiện trạng thái chức năng của các đường vân này có sự khác biệt nhỏ.
Đường thẳng nằm ngoài gò Nguyệt là đường thần bí (đường linh cảm) chuẩn. Những người có đường này thường là người có linh cảm và cảm nhận tâm lý tốt, giàu trí tưởng tượng, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, trên trán của người này thường có một đường trục thảng, kéo dài từ phía trên chính giữa lông mày đến phía dưới chân tóc ở trán, tức là đường "Thông thiên" trên trán và cũng là vị trí của huyệt đạo "Thiên mục". Người cô đường: vân này thường theo trường phái "Thiên nhân hợp nhất", thích nghiên cứu về những sự vật hiện tượng thần bí và đã có những thành công lớn trong lĩnh vực này (Hình 44-1).
Đường vân đơn r ủa đường tình cảm và đường trí tuệ xuyên ngang qua gò Nguyệt, chạy dọc theo bên trong gò Nguyệt là một dạng đường linh cảm khác. Độ nét của đường vân này càng lớn, càng dài, phạm vi xuyên qua càng rộng thì khả năng linh cảm của người đó càng tốt, lĩnh vực liên quan càng rộng và kiến thức hiểu biết càng sâu, khả năng dự báo thành công rất chính xác, khả nàng tri giác càng nhanh. Sống thiên về tình cảm và giàu tư chất nghệ thuật, có ý nghĩa tương tự như ý nghĩa của đường linh cảm ở mục 1. Điểm khác nhau là ồ chỗ, dường linh cảm ở mục 2 có tính rộng rãi, viển vông, hết sức nhiệt tình và cô chấp. Điểm khác biệt giữa đường linh cảm dạng thứ hai so với đường sức khoẻ hoặc đường vân bổ trợ của đường tình cảm là ở chỗ đường sức khoẻ hoặc đường vân bổ trợ của đường tình cảm là đường thẳng chạy dọc theo bên trong gò Nguyệt, có nhiều nét đứt, trong khi đó đường linh cảm không bị đứt đoạn, trên đường linh cảm cũng không có các đường vân tạp (Hình 44-2).
Đường vân nằm ở phía dưới vị trí giao nhau giữa ngón út và ngón đeo nhẫn hoặc đường vân nằm ở phía dưới ngón đeo nhẫn là đường "Thiên mục". Người có đường vân này thường có khả năng đặc biệt, chủ yếu kích hoạt khả năng "Thiên mục" của huyệt "ấn đường", cho thây người này có khả năng nhìn xa trông rộng, nhìn trước được chiều hướng phát triền của sự vật. Đây không phải là ảo tưởng mà là khả năng đặc biệt giông như tia X quang, có thể nhìn thấy lục phủ ngũ tạng, huyết quản, kinh lạc của con người; khả nàng nhìn sự vật xuyên qua tường và nhìn được sự vật chôn sâu dưới đất... (Hình 44-3).
Đường vân hình chữ thập nằm ở chính giữa đường trí tuệ và đường tình cảm và ở chính giữa đường vận mệnh là đường vân thể hiện giác quan thứ 6 hoặc là đường vân thể hiện ý thức siêu phàm (Hình 12 trang 7). Người có đường vân này, có khả năng tiên tri rất tốt, thường biết được kết cục trước khi sự việc diễn ra, điều đó có nghĩa người này có khả năng nắm được những thông tin mang tính dự báo. Những thông tin dự báo này thường được cảm nhận trong những giâ'c mơ, dự cảm hoặc trực giác. Ví dụ, mơ được đến một nơi nào đó để du ngoạn (nơi mà trước đây chưa từng dến), quả nhiên ít lâu sau được đến đó du ngoạn thật, đây được gọi là "khí tượng" được liên kết bởi các thông tin dự báo và được thể hiện trong giấc mơ. Những người có đường vân này nên thường xuyên chú ý đến những thông tin đó, đây hoàn toàn không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cần phải tồn trọng trực giác, những người này thường sông theo cảm giác, làm việc theo trực giác, thường nhìn nhận vấn đề trước so với người khác, nhưng thường xuyên chủ quan cố chấp. Nếu biết biến ý thức siêu phàm đó thành ý thức chung của một ngành hoặc một tổ chức đoàn thể thông qua phương thức giao lưu thì khi làm bất cứ việc gì đều không có đôi thu và thành công gâp bội (Hình 44-4).
Đường vân hình chữ mễ (^) và hình chữ thập (+) ở phía dưói gò của ngón trỏ thể hiện ý nghĩa tương tự như đường linh cảm ở mục
. Điểm khác biệt ở chỗ trạng thái siêu phàm này được thể hiện trong sự nghiệp. Người có dường vân này, thường có những thành tích kiệt xuất trong lĩnh vực nghiên cứu và kèm theo tư duy linh cảm, sâu sắc và nổi bật. Có đặc trưng tư duy ngược chiều và tư duy toàn diện (Hình 44-5).
Chỉ cần có một trong 5 loại đường linh cảm trên là sẽ có khả năng tiên đoán siêu phàm. Các nhà khoa học, nhà nghệ thuật, các chức sắc tôn giáo và những người có khả năng đặc biệt thường có một hoặc một số đường vân tay trên.
Người có mật mã linh cảm, nếu sử dụng công năng này không cẩn thận có thể sẽ làm cho gò cửa các ngón giữa, ngón trỏ và ngón đeo nhẫn bị lõm xuống cho thấy tâm khí, tâm thần, nguyên đương, nguyên khí bị tổn thương quá nặng; nếu gò Nguyệt và gò Địa hoặc gò của ngón út cũng bị lõm xuống cho thấy thận khí, thận tinh, nguyên tinh, nguyên âm cũng bị tổn thương, tâm thận bất giao, khí “hạ đan điền” suy nhược, dương khí bị tổn thương, trung và thượng đan điền suy khí, nhiệt ở tim và não quá nhiều, âm khí ở thận và dương khí ở tim không bổ sung cho nhau, nhiệt ở trung đan quá nhiều. Xuất hiện các dấu hiệu trên trong lòng bàn tay chứng tỏ tinh, khí và thần của người này đã bị hao tổn nghiêm trọng. Hiện tượng này thường thấy ở những người luyện khí công, có cồng năng, thường xuyên phát khí cồng để trị bệnh và trị liệu cho người khác. Vô hình chung họ chỉ "toả khí", không "hấp thụ khí" và không đào thải được bệnh khí, hậu quả thế nào? Chính bản thân họ lại là người có bệnh, họ tự chuốc bệnh vào người, nguyên nhân là do nội khí (nguyên khí) quá hao tổn.
Những người có mật mã linh cảm nói trên nếu tâm thái không khoẻ mạnh hoặc do tác động không tốt từ bên ngoài hoặc trong người có dị thể ác tính thì sẽ gây ra hiện tượng tinh thần phân liệt, có những triệu chứng giống như những bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần và gần như không thể điều trị được, là một hiện tượng "rối loạn khí cơ" đặc thù. Người luyện khí công do tinh thần quá tập trung hoặc tâm lực bất chính sẽ gây ra hiện tượng này. Do khí công là sử dụng nguyên khí để làm cân bằng âm dương, phải tuyệt đốì không được kích động, suy nghĩ nhiều hoặc ham thích dục vọng. Nếu trong quá trình luyện công bị kích động hoặc suy nghĩ nhiều, sẽ làm cho nguyên khí bị tổn thương. Khi xuất hiện hiện tượng này, y học hiện đại cũng vô phương cứu chữa. Nếu sử dụng phương pháp tiêm để điều trị chứng bệnh này thì coi như là bị tàn phế, trở thành người đần độn. Nhiều người luyện khí công đã không biết điều này. Một số người tự xưng là có khả năng chữa bệnh bằng khí công, vốn là giả mạo kết hợp với việc phải suy nghĩ nhiều nên rất dễ xuất hiện tình trạng trên.
Những người có đường linh cảm như trên, khi đường lính cảm có tác dụng đại đa số đều có công năng. Nếu không am hiểu nguyên lý vận động của khí công sẽ tự huỷ hoại bản thân mình. Do đó, cuốn sách này chỉ rõ những lợi hại trong việc luyện khí công để cảnh báo những người đang luyện khí công.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét