HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ THÕNG TIN CỦA
KHU Vực TẠO THÀNH TƯỚNG MỆNH
Về bản chất của sinh mệnh, con người là một cơ thể sống, là hình thức đối ứng của sinh mệnh vũ trụ và trong quá trình giao hoà âm dương với con người, hàm chứa các quy luật và mô thức cơ bản của sinh mệnh và vũ trụ. Sau khi “bà mụ” càn cứ vào trình tự mã số khí tượng để sắp xếp trường khí tượng của ba trường sinh mệnh lớn thành khí, linh, tượng, số, lý thì mới phát triển thành hình người có xương có thịt như ngày nay.
Xin hãy chú ý trong chương này chúng tôi chỉ bàn về kết cấu ổn định về sinh mệnh của con người, không bàn luận đến các trạng thái dị biến, cũng khống phải là nhũng trạng thái khác biệt trong kết cấu Ổn định này. Hệ thông định tính của mật mã sinh mệnh được đúc kết trong quá trình nghiên cứu trạng thái bình thường và dị biến trong quá trình diễn biến của sinh mệnh. Hình dáng con người ở đây được coi là một chỉnh thể, nếu coi là một nguyên tố thông tin của sinh mệnh vũ trụ thì mật mã sinh mệnh là sự tái diẽn của mật mã vũ trụ, mô thức kết cấu sinh mệnh của cơ thể con người chính là sự tái diễn của mô thức kết cấu vũ trụ; nếu coi cơ thể con người là sự thu nhỏ của mô thức kết cấu sinh mệnh vũ trụ, thì các bộ phận của cơ thể con người củng trở thành một nhân tố thông tin sinh mệnh nhỏ.
Quan sát sự phân bô của các mật mã sinh mệnh khác nhau trên cơ thể con người từ góc độ sự thực khách quan của thông tin sinh mệnh có thể thấy có một khu vực đặc biệt. Khu vực này là hệ thống định vị do mật mã sinh mệnh tự tổ chức. Các bộ phận, các khí quan, các hệ thông sinh mệnh hợp thành của cơ thể con người đều có hệ thống định vị riêng rất nghiêm ngặt. Chúng tập hợp thành một cơ thể người hoàn chỉnh, một con người có sức sống.
Bất kì một ước số sinh mệnh cục bộ nào của vật chất sinh mệnh đều bao gồm trạng thái chỉnh thể và quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh này, đồng thời giữa chúng luôn có tính đối ứng rất hợp lý. Mỗi một ước số sinh mệnh cục bộ đều có thể phóng đại vô hạn, thành một thế giới, trong một không gian sinh thái nhất định thể hiện trạng thái chỉnh thể và quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh mà nó tượng trưng. Tất cả các gen di truyền của sình mệnh hữu cơ đều tồn tại trong các nhiễm sắc thể, kết cấu hai hình xoắn ốic của nhiễm sắc thể chính là mô thức kết cấu cơ bản của dải Ngân hà và các "Tính hệ" khác và cũng là kết cấu hình xoắn ốc đường gấp khúc hình chữ s của vô cực, hoặc là kết cấu hình vẽ của thái cực, hoặc là kết cấu của hoàng cực. Bán cầu trái và phải của đại não là loại kết cấu này, tất cả các vị trí huyệt đạo của cơ thể đều thuộc dạng kết cấu này. Khi chúng ta nạp khí vào chính là kết cấu giao ứng "Hắc động" hình xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ, khi chúng ta thải khí ra chính là kết cấu giao ứng "Bạch động" hình xoắn ốc thuận chiều kim đồng hồ. Lấy rốn làm trung tâm, cánh tay trái và đùi phải, đùi trái và cánh tay phải tạo thành kết cấu hình chữ thập xoắn Ốc, giống như “Ngân hạc” và “Ngân tí” của dải ngân hà.
Do đó, đầu là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, lưBi là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tai là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tay là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, chân là một nhân tố thông tin của sinh mệnh, chúng tạo thành một hình dáng con người hoàn chỉnh. Tại mỗi một vị trí tương quan của nhân tố thông tin đều thể hiện trên các nhân tố thông tin này theo trạng thái hoàn chỉnh và hệ thống kết cấu do cơ thể con người tự tổ chức. Đây chính là nguyên nhân có thể xác định mật mã sinh mệnh thể hiện hệ thống định vị thông tin của khu vực cấu thành tướng mệnh. Chỉ có nắm được hệ thống định vị này, chúng ta mới có thể xác đinh và phán đoán được bệnh tật xuất phát từ bộ phận nào của cơ thể khoẻ *mạnh.
ĐỊNH VỊ BỆNH TẬT ở
LỤC PHỦ NGŨ TẠNG QUA TƯỢNG MẬT
Y học Trung Quốc cho rằng, các bộ phận trên mặt đều tương ứng với các chức năng của lục phủ ngũ tạng trong cơ thể. Bởi thế, thời xưa các cụ ta thường đoán bệnh tật qua sắc mặt của người bệnh để từ đó đưa ra cách điều trị phù hợp.
Các phủ tạng trong cơ thể ứng với các bộ phận trên mặt như sau: Giữa trán ứng với trán; phía trên ấn đường ứng với yết hầu; ấn đường (hay mệnh môn, mệnh cung) ứng với phổi; giữa hai mắt (sơn căn hay tị căn) ứng với tim; sông mũi (khoảng giữa tị căn đến tị chuẩn) ứng với gan; đầu mũi ứng với lá lách; cánh mũi ứng với dạy dày; nhân trung ứng với bàng quang, tử cung; khoé miệng ứng với mé đùi trong; phía trên góc mắt trong ứng với ngực; khoảng từ hai gò má hất vào, sống mũi hất ra, phần trên ứng với tiểu tràng (ruột non), phần dưới ứng với đại tràng; xương gò má ứng với vai; cung quyền (xương hình cung từ xương gò má đến mép tai) ứng với cánh tay; phía dưới cung quyền ứng với tay; má dưới xương gò má ứng với thận; dưới má ứng với rốn; phía trên quai hàm ứng với lưng; dưới vân pháp lệnh phía ngoài vân khoé miệng ứng với đùi; má ứng với đầu gối.
ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAI
Rất nhiều kinh nghiêm thực tiễn về phương pháp trị liệu châm cứu ở tai đã cho thấy, vành tai hoàn toàn không phải là một cơ quan thính giác cô lập đơn giản, mà là một cơ thể thu nhỏ và là một hình thai nhi lộn ngược. Vì thế vành tai và các bộ phận khác trên cơ thể có mốì quan hệ khăng khít với nhau. Mỗi bộ phận trên cơ thể đều có một “đặc khu” trên vành tai, đại thể là: chân bờ vành tai tượng trưng cho hoành cách mô; toàn bộ bờ vành tai tượng trưng cho đoạn dưới trực tràng, niệu đạo, cơ quan sinh dục ngoài, hạch hạnh (a-mi-đan); vành tai tượng trưng cho chi trên; bờ vành tai tượng trưng cho thân người và chi dưới; mé ngoài lỗ tai biểu trưng cho mũí, mé trong biểu trưng cho yết hầu, xung quanh là tuyến thượng thận; mặt trước bên dưới của bờ tai là trán; chính giữa dái tai là mắt; chân và tay đều nằm ở phần trên của vành tai. Có thể thấy rằng, trong 5 ngũ quan thì tai mang những thông tin sinh mệnh học đặc thù.
ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAY
Nội dung chính của phần này tập trung bàn về mật mã vân tay.
Tuy nhiên, mật mã vân tay chỉ là một phương thức biểu hiện bên ngoài của trạng thái sinh mệnh con người. Nếu muốn tìm hiểu tại sao loại mật mã này xuất hiện ở đây lại phản ánh một trạng thái nhất định của các cơ quan phủ tạng, thì chúng ta phải tìm hiểu thêm về hệ thống định vị của tứ chi và các khí quan hiện trên bàn tay. Đó chính là định vị mật mã tổng thể tượng tay.
Dựa theo kinh nghiệm hàng nghìn năm của cha ông ta, kết quả nghiên cúư của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cũng như thực tiễn hoạt động của bản thân, chúng tôi thấy rằng cần nghiên cứu sâu thêm các nghiên cứu trước đây của các bậc tiền bối.
Thứ nhất, 12 kinh mạch trên tay và chức năng các khí quan thể hiện trên 10 ngón tay, lục phủ ngũ tạng đối ứng chỉ vẽ ra được một cách khái quát lớn, còn nó đối ứng với bệnh thái cụ thể nào thì chưa rõ.
Thứ hai, người xưa căn cứ trên luật “toàn tức vũ trụ” và nguyên lý “thiên nhân hợp nhất” đã biết rõ rằng mu bàn tay đối úng với chức năng của lục phủ ngũ tạng, của gân cốt tứ chi (trong đó lấy xương sống làm chủ đạo) và chủ yếu tập trung chú ý vào huyệt vị, nhờ đó mà sáng tạo ra hình vẽ ứng dụng lâm sàng trị liệu qua huyệt vị trên lòng bàn tay và mu bàn tay (hình 8A, 8B), châm cúư bằng kim và mát sa. Phương pháp châm cứu huyệt tay (tức châm kim trên một số huyệt đặc biệt của phần tay, được phát triển từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20) có thể chữa trị bệnh tật một số bộ phận trên cơ thể và mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt. Tuy nhiên, chưa có sự miêu tả cụ thể về mặt hình thái của kinh mạch, huyệt vị và mạch khí hiển thị trên hình tay, vân tay, sắc tay, hình ngón tay, sắc ngón tay.
Thứ ba, khoa học nghiên cứu về vân tay, tượng tay thời trước chưa diễn đạt được mối quan hệ hình thái giữa “tiên thiên bẩm phú” (các yếu tố bẩm sinh) và “hậu thiên tiêu hao” (sự mai một dần sau khi sinh ra) về mặt sinh lý, bệnh lý và y lý. Nếu có thì cũng rất khó hiểu vì nó huyền bí và dùng nhiều ẩn ngữ, ví von. Ngoài ra, những hình vẽ đi kèm thường không được rõ nét cho lắm nên không thể tham chiếu được. Người xưa do hạn chế về thời đại và xã hội trọng nông trọng thương nên các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào Phúc, Lộc, Thọ, Sĩ, Binh, và trọng nam khinh nữ, “y tượng phân lưu” (tách biệt giữa chữa trị và xem tướng). Như vậy còn có rất nhiều lĩnh vực chưa được đề cập tới, cần phải bám vào hiện trạng và nhu cầu của xã hội để có những bước nghiên cứu tiếp theo về mật mã sinh mệnh vân tay.
Thứ tư, cùng với sự sáng lập và phát triển phương pháp châm cứu, “thủ tạng tượng” (nghiên cứu các phủ tạng qua hình dạng tay) đã mở ra phương pháp tư duy mới cho việc chẩn đoán sinh mệnh qua vân tay.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của người xưa, cộng với nhiều năm nghiên cứu của bản thân, tôi thấy rằng tượng tay là một chỉnh thể phức hợp nhiều tầng về cơ thể.
Phát hiện đầu tiên là tượng tay hiển thị 3 hình người thu nhỏ trên tay.
Thứ nhất là hình người thu nhỏ có phần đầu nằm trên ngón tay giữa, đỉnh đầu trên đầu mút ngón tay và phủ phục ở mặt lưng ngón tay, nên gọi là huyệt khu “tượng phủ phục”. Đây là khu tướng tay trên phần mu. Đôi ứng với nó là khu tướng tay trên lòng bàn tay.
Hình người thu nhỏ thứ hai và thứ, ba lộn ngược so với hình người trên, đầu hướng xuống dưới, chân lộn lên trên, cuộn như hình thai nhi, na ná như hình cái tai. Hai hình người thu nhỏ này một cái nằm ở mé xương cổ tay của ngón tay cái; một cái nằm ở mé xương trụ cẳng tay của ngón tay út. Có thể nói đây là hai mật mã tổng thể khác về sinh mệnh.
Từ đó tôi phát hiện thêm rằng: hình tướng hiển thị trên lưng của 5 ngón tay (mu bàn tay) là mật mã sinh mệnh phần lưng của con người; hình tướng hiển thị trên mặt trong của 5 ngón tay (lòng bàn tay) là mật mã sinh mệnh phủ tạng của con người; ngón trỏ và ngón cái kết hợp với nhau tạo thành mật mã sinh mệnh tổng thể của một cơ thể; ngón tay áp út và ngón tay -út kết hợp với nhau cũng vậy. Người xưa đã không đi theo mạch tư duy mà chúng ta vừa đưa ra, chưa thoát khỏi huyệt vị kinh lạc, thiên địa phủ tạng, chưa nghiên cứu hệ thống dấu hiệu hiển thị ra bên ngoài từ các hình tướng trên. Bởi thế, nên không thể sáng lập ra hệ thống toàn tức sinh mệnh để giải mã sinh mệnh được.
Thứ năm, “khoa học nghiên cứu về vân da” của người phương Tây cho chúng ta thấy người phương Tây đã ý thức được rằng các bệnh biến sinh lý của các bộ phận trong cơ thể người đều hiển thị trên vân tay, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các ví dụ và tích luỹ số liệu, chứ chưa đứng ở góc độ vĩ mô xem xét con người là một hệ thống sinh mệnh lớn, từ quy luật vi mô trên bàn tay, lưng bàn tay, từ tầm vĩ mô của mật mã sinh mệnh, của khoa học sinh mệnh nhân thể, từ quy tắc, quy phạm thông tin tổng thể vũ trụ, thiên nhân hợp nhất để tổng kết, đưa ra một hệ thống chặt chẽ, nghiệm chứng thực tế có thể thao tác được... Những gì chúng tôi đã làm và những gì chúng tôi trình bày trong cuốn sách này chính là đang xây dựng hệ thốhg đó.
Thứ sáu, cho đến nay, giới Đông y, giới khí công, giới khoa học nghiên cứu vân tay ở phương Tây, giới tượng tay học mới xuât hiện ở Đông Dương, giới tượng'tay học, tượng mệnh học ổ Trung Quổc và khu vực Đông Nam Á, vẫn quy ước rằng: nam trái nữ phải; nam xem bên trái, nữ xem bên phải; trái tiên thiên, phải hậu thiên; cha bên trái, mẹ bên phải; chồng bên trái, vợ bên phải... Đây là những sai lầm về mặt lý luận truyền thông của triều đại phong kiến. Căn nguyên của nó có thể là “thiên tôn địa ti”, “nam tôn nữ ti”. Đó là giới hạn lịch sử của thời cũ. Ngày nay người ta vẫn còn tin theo nó, đó là cái cặn bã. Bởi thế, nó đã trói buộc sự phát triển tiếp theo của khoa học sinh mệnh truyền thống.
Chúng tôi đã xây dựng nên hệ thông định vị mật mã sinh mệnh đốì ứng'giao thoa giữa bàn tay trái, bàn tay phải với phủ tạng cơ thể. Từ đó có thể giải thích và thao tác một cách toàn diện mật mã sinh mệnh cơ thể người, đồng thời loại bỏ những cách định vị sai lầm của phương pháp “đồ chẩn tay” trước đây, xây dựng nên hệ thông định vị mật mã tổng thể về sinh mệnh Thiệu Vĩ Hoa.
Hệ thông định vị mật mã sinh mệnh Thiệu Vĩ Hoa có những nội dung chính như sau:
Định vị mật mã tổng thể lòng bàn tay
Lòng bàn tay trái và phải đều là hình thể hiện lục phủ ngũ tạng trong cơ thể, nó liên thông với huyệt vị kinh lạc thuộc hệ thông phủ tạng. Lòng bàn tay còn có môi quan hệ với các dấu hiệu vân tay. Khi lòng bàn tay hướng lên trên, lấy ngón tay giữa làm mốc, vị trí phủ tạng được thể hiện trên tay trái phải tương phản nhau. Tức là, khi lòng bàn tay trái hướng lên trên, ngón tay giữa là phần đầu, ngón tay trỏ và ngón tay cái đối ứng với phủ tạng và chi bên phải của cơ thể; lòng bàn tay phải hướng lên trên, ngón giữa đối với phần đầu, ngón trỏ và ngón cái đối ứng với phủ tạng và chi bên trái của cơ thể, còn ngón áp út và ngón út đối ứng với phủ tạng và chi bên phải cơ thể (Hình 38).
Khi bàn tay trái, phải hướng xuống dưới, phủ tạng của cơ thể đối ứng với các ngón tay sẽ thống nhất với vị trí thực tế của chúng trên cơ thể (Hình 35).
Khi lòng bàn tay của cả hai tay trái, phải đều hướng lên trên, nhìn đồng thời thì thấy tay trái đối ứng với phủ tạng và chi bên phải của cơ thể; tay phải đối ứng với phủ tạng và chi bên trái của cơ thể. (Hình 56).
Định vị mật mã sinh mệnh bàn tay đơn
Trên mỗi bàn tay có 5 tượng thông tin về sinh mệnh:
Tạng thủ phục là tượng sinh mệnh hình người thu nhỏ (Hình 38).
Ngón tay cái là một tượng sinh mệnh. Đốt tay thứ nhất là đầu, đốt tay thứ hai là cổ, đốt tay thứ ba là tim, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hoá và cơ quan sinh sản (Hình 42, 43).
Đường sinh mệnh là một tượng sinh mệnh. Đầu ở ngón tay cái (hoặc gò Mộc tinh), nhưng đoạn khởi đầu của đường sinh mệnh cũng có thể xem là đầu, tiếp theo là dạ dày, đường hô hấp trên, đoạn ruột nối dạ dày và ruột non, tiểu tràng (ruột non), đại tràng, thận, hội âm, đầu gối, ống chân (Hình 42, 43).
Ngón tay cái và ngón tay trỏ hợp với nhau tạo thành tượng sinh mệnh rìa bàn tay trong. Đầu ở xương cổ tay, do đó mệp ngoài ngón tay cái là hệ thống hô hấp, mép trong là lá lách, dạ dày, hệ tiêu hoá, đường ruột. Đó là lý do tại sao nói gò Kim tinh chủ lá lách, dạ dày. Ngón cái là chi trên trái, phải; ngón trỏ là chi dưới trái, phải (Hình 41)7
Ngón út và ngón áp út hợp với nhau thành tượng rìa bàn tay ngoài. Đầu nằm ở xương trụ cẳng tay, vì thế đầu cuối gò Nguyệt chủ phổi và các cơ quan hô hấp, nhưng gò ngón út chủ thận, chức nống sinh sản, mệnh môn, ngón út chủ chi trên trái phải, ngón áp út chủ chi dưới trái phải (Hình 41).
Lấy ngón giữa làm chuẩn, đường trục giữa dọc từ đầu ngón tay đến gò Địa là trung mạch của tạng thủ phục, đầu, mắt, mũi, mồm, họng, khí quản, phổi, tim, rốn, thận, cơ quan sinh dục, hội âm. Hai bên tay trái phải đôi xứng và hợp với nhau thành tượng sinh mệnh chỉnh hợp của cơ thể người (Hình 42, 43).
* Chú thích đặc biệt
Hình vẽ định vị mật mã sinh mệnh chẩn trị lòng và mu bàn tay của Trịnh Tú Mỹ sử dụng tổng hợp cả mật mã tượng thủ phục, tạng thủ phục, tượng mép tay, tạng mép tay, cũng như các hình trong lòng và trên mu bàn tay truyền thống của người Trung Quốc, tương đối rõ nét, thích hợp dùng cho xoa bóp, châm cứu. Chúng ta có thể dùng nó trong việc tìm kiếm mật mã'vân tay và phán đoán ý nghĩa của mật mã vân tay.Tam gian (tiêu hoá không tốt, hen suyễn)
Nhị minh (cận thị)
Điểm nhãn (đau mắt. xung huyết, tổn thũng ngoài mắt)
Hình 36: Vị trí chẩn trị trên cạnh bàn tay và mu bàn tay
* Chú thích đặc biệt
Hình nhánh (1) của hình này thực tế là hình tạng (tượng) rìa ngoài lấy ngón út làm chủ, hình nhánh (2) thực tế là hình tượng thủ phục do ngón cái và ngón trỏ tạo thành, đầu ngón là phần đầu.
Hình này thể hiện rõ nét từng điểm huyệt vị để có cách chẩn trị bệnh tương ứng; có ý nghĩa định tính của mật mã sinh mệnh.
* Chú thích dặc biệt
Đây là hình chẩn đoán bàn tay khí công, dùng cảm khí để chẩn bệnh, tức ỉà thầy khí công dùng thể khí để cảm ứng vị trí bệnh trong cơ thể người bệnh, trên từng bộ phận tương ứng của cơ thể sẽ xuất hiện cảm giác tê, mỏi, chướng, nóng, lạnh, nhức, đau nhói, sắc khí thay đối, từ đó có thể chẩn đoán bệnh tình của người bệnh.
Phương pháp định vị tượng tay này dùng phương pháp “kinh thủ túc tam âm tam dương” của Đông y truyền thống. Từ lưng ngón cái đến lưng ngón út đến sát mặt cạnh của xương cổ tay là dương, theo thứ tự kiểm tra bệnh khí, bệnh biến của ngũ phủ: dạ dày, mật, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang. Từ ngón cái đến bụng ngón út và đến sát mặt bên của xương trụ cẳng tay là âm, theo thứ tự kiểm tra bệnh khí, bệnh biến của ngũ tạng: Lá lách, gan, tim, phổi, thận.
Trên đây là một số nội dung về định vị phủ tạng cơ thể trên bàn tay, ngón tay, độc giả có thể kiểm chứng thêm trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân mình.
Hình 38: Định vị mật mã sinh mệnh trên lòng bàn tay phải, trái của Thiệu Vĩ Hoa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét