Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ THÕNG TIN CỦA KHU Vực TẠO THÀNH TƯỚNG MỆNH

 HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ THÕNG TIN CỦA 

KHU Vực TẠO THÀNH TƯỚNG MỆNH 

Về bản chất của sinh mệnh, con người  một cơ thể sống hình thức đối ứng của sinh mệnh  trụ  trong quá trình giao hoà âm dương với con ngườihàm chứa các quy luật  mô thức cơ bản của sinh mệnh   trụ. Sau khi “ mụ” càn cứ vào trình tự  số khí tượng để sắp xếp trường khí tượng của ba trường sinh mệnh lớn thành khí, linh, tượngsố thì mới phát triển thành hình người  xương  thịt như ngày nay. 

Xin hãy chú ý trong chương này chúng tôi chỉ bàn về kết cấu ổn định về sinh mệnh của con người, không bàn luận đến các trạng thái dị biếncũng khống phải  nhũng trạng thái khác biệt trong kết cấu Ổn định nàyHệ thông định tính của mật  sinh mệnh được đúc kết trong quá trình nghiên cứu trạng thái bình thường  dị biến trong quá trình diễn biến của sinh mệnhHình dáng con người ở đây được coi  một chỉnh thểnếu coi  một nguyên tố thông tin của sinh mệnh  trụ thì mật  sinh mệnh  sự tái diẽn của mật   trụ, mô thức kết cấu sinh mệnh của cơ thể con người chính  sự tái diễn của mô thức kết cấu  trụnếu coi cơ thể con người  sự thu nhỏ của mô thức kết cấu sinh mệnh  trụthì các bộ phận của cơ thể con người củng trở thành một nhân tố thông tin sinh mệnh nhỏ. 

Quan sát sự phân bô của các mật  sinh mệnh khác nhau trên cơ thể con người từ góc độ sự thực khách quan của thông tin sinh mệnh  thể thấy  một khu vực đặc biệt. Khu vực này  hệ thống định vị do mật  sinh mệnh tự tổ chứcCác bộ phậncác khí quan, các hệ thông sinh mệnh hợp thành của cơ thể con người đều  hệ thống định vị riêng rất nghiêm ngặtChúng tập hợp thành một cơ thể người hoàn chỉnhmột con người  sức sống. 

Bất  một ước số sinh mệnh cục bộ nào của vật chất sinh mệnh đều bao gồm trạng thái chỉnh thể  quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh nàyđồng thời giữa chúng luôn  tính đối ứng rất hợp Mỗi một ước số sinh mệnh cục bộ đều  thể phóng đại vô hạnthành một thế giới, trong một không gian sinh thái nhất định thể hiện trạng thái chỉnh thể  quan hệ kết cấu của vật chất sinh mệnh   tượng trưng. Tất cả các gen di truyền của sình mệnh hữu cơ đều tồn tại trong các nhiễm sắc thểkết cấu hai hình xoắn ốic của nhiễm sắc thể chính  mô thức kết cấu cơ bản của dải Ngân   các "Tính hệkhác  cũng  kết cấu hình xoắn ốc đường gấp khúc hình chữ s của vô cựchoặc  kết cấu hình vẽ của thái cựchoặc  kết cấu của hoàng cựcBán cầu trái  phải của đại não  loại kết cấu nàytất cả các vị trí huyệt đạo của cơ thể đều thuộc dạng kết cấu này. Khi chúng ta nạp khí vào chính  kết cấu giao ứng "Hắc độnghình xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ, khi chúng ta thải khí ra chính  kết cấu giao ứng "Bạch độnghình xoắn ốc thuận chiều kim đồng hồLấy rốn làm trung tâm, cánh tay trái  đùi phảiđùi trái  cánh tay phải tạo thành kết cấu hình chữ thập xoắn Ốcgiống như “Ngân hạc”  “Ngân ” của dải ngân . 

Do đóđầu  một nhân tố thông tin của sinh mệnhlưBi  một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tai  một nhân tố thông tin của sinh mệnh, tay  một nhân tố thông tin của sinh mệnh, chân  một nhân tố thông tin của sinh mệnhchúng tạo thành một hình dáng con người hoàn chỉnhTại mỗi một vị trí tương quan của nhân tố thông tin đều thể hiện trên các nhân tố thông tin này theo trạng thái hoàn chỉnh  hệ thống kết cấu do cơ thể con người tự tổ chức. Đây chính  nguyên nhân  thể xác định mật  sinh mệnh thể hiện hệ thống định vị thông tin của khu vực cấu thành tướng mệnhChỉ  nắm được hệ thống định vị nàychúng ta mới  thể xác đinh  phán đoán được bệnh tật xuất phát từ bộ phận nào của cơ thể khoẻ *mạnh. 

ĐỊNH VỊ BỆNH TẬT ở 
LỤC PHỦ NGŨ TẠNG QUA TƯỢNG MẬT 

học Trung Quốc cho rằngcác bộ phận trên mặt đều tương ứng với các chức năng của lục phủ ngũ tạng trong cơ thểBởi thếthời xưa các cụ ta thường đoán bệnh tật qua sắc mặt của người bệnh để từ đó đưa ra cách điều trị phù hợp. 

Các phủ tạng trong cơ thể ứng với các bộ phận trên mặt như sau: Giữa trán ứng với tránphía trên ấn đường ứng với yết hầuấn đường (hay mệnh môn, mệnh cung) ứng với phổigiữa hai mắt (sơn căn hay tị căn) ứng với tim; sông mũi (khoảng giữa tị căn đến tị chuẩnứng với gan; đầu mũi ứng với  láchcánh mũi ứng với dạy dày; nhân trung ứng với bàng quang, tử cung; khoé miệng ứng với  đùi trong; phía trên góc mắt trong ứng với ngựckhoảng từ hai   hất vàosống mũi hất ra, phần trên ứng với tiểu tràng (ruột non), phần dưới ứng với đại tràng; xương   ứng với vai; cung quyền (xương hình cung từ xương   đến mép tai) ứng với cánh tay; phía dưới cung quyền ứng với tay;  dưới xương   ứng với thậndưới  ứng với rốnphía trên quai hàm ứng với lưng; dưới vân pháp lệnh phía ngoài vân khoé miệng ứng với đùi ứng với đầu gối. 

 

 

ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAI 

Rất nhiều kinh nghiêm thực tiễn về phương pháp trị liệu châm cứu ở tai đã cho thấyvành tai hoàn toàn không phải  một cơ quan thính giác cô lập đơn giản  một cơ thể thu nhỏ   một hình thai nhi lộn ngược thế vành tai  các bộ phận khác trên cơ thể  mốì quan hệ khăng khít với nhau. Mỗi bộ phận trên cơ thể đều  một “đặc khu” trên vành tai, đại thể : chân bờ vành tai tượng trưng cho hoành cách mô; toàn bộ bờ vành tai tượng trưng cho đoạn dưới trực tràngniệu đạo, cơ quan sinh dục ngoàihạch hạnh (a-mi-đan); vành tai tượng trưng cho chi trên; bờ vành tai tượng trưng cho thân người  chi dưới ngoài lỗ tai biểu trưng cho mũí trong biểu trưng cho yết hầu, xung quanh  tuyến thượng thậnmặt trước bên dưới của bờ tai  tránchính giữa dái tai  mắt; chân  tay đều nằm ở phần trên của vành tai.  thể thấy rằng, trong 5 ngũ quan thì tai mang những thông tin sinh mệnh học đặc thù. 

 

ĐỊNH VỊ MẬT MÃ SINH MỆNH TƯỢNG TAY 

Nội dung chính của phần này tập trung bàn về mật  vân tay. 

Tuy nhiên, mật  vân tay chỉ  một phương thức biểu hiện bên ngoài của trạng thái sinh mệnh con ngườiNếu muốn tìm hiểu tại sao loại mật  này xuất hiện ở đây lại phản ánh một trạng thái nhất định của các cơ quan phủ tạngthì chúng ta phải tìm hiểu thêm về hệ thống định vị của tứ chi  các khí quan hiện trên bàn tay. Đó chính  định vị mật  tổng thể tượng tay. 

Dựa theo kinh nghiệm hàng nghìn năm của cha ông ta, kết quả nghiên cúư của các nhà khoa học trong  ngoài nướccũng như thực tiễn hoạt động của bản thân, chúng tôi thấy rằng cần nghiên cứu sâu thêm các nghiên cứu trước đây của các bậc tiền bối. 

Thứ nhất, 12 kinh mạch trên tay  chức năng các khí quan thể hiện trên 10 ngón tay, lục phủ ngũ tạng đối ứng chỉ vẽ ra được một cách khái quát lớncòn  đối ứng với bệnh thái cụ thể nào thì chưa . 

Thứ hai, người xưa căn cứ trên luật “toàn tức  trụ”  nguyên  “thiên nhân hợp nhất” đã biết  rằng mu bàn tay đối úng với chức năng của lục phủ ngũ tạngcủa gân cốt tứ chi (trong đó lấy xương sống làm chủ đạo chủ yếu tập trung chú ý vào huyệt vịnhờ đó  sáng tạo ra hình vẽ ứng dụng lâm sàng trị liệu qua huyệt vị trên lòng bàn tay  mu bàn tay (hình 8A, 8B), châm cúư bằng kim  mát sa. Phương pháp châm cứu huyệt tay (tức châm kim trên một số huyệt đặc biệt của phần tay, được phát triển từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20)  thể chữa trị bệnh tật một số bộ phận trên cơ thể  mang lại hiệu quả điều trị  rệt. Tuy nhiên, chưa  sự miêu tả cụ thể về mặt hình thái của kinh mạchhuyệt vị  mạch khí hiển thị trên hình tay, vân tay, sắc tay, hình ngón tay, sắc ngón tay. 

Thứ ba, khoa học nghiên cứu về vân tay, tượng tay thời trước chưa diễn đạt được mối quan hệ hình thái giữa “tiên thiên bẩm phú” (các yếu tố bẩm sinh)  “hậu thiên tiêu hao” (sự mai một dần sau khi sinh ra) về mặt sinh bệnh   y Nếu  thì cũng rất khó hiểu   huyền   dùng nhiều ẩn ngữ von. Ngoài ra, những hình vẽ đi kèm thường không được  nét cho lắm nên không thể tham chiếu đượcNgười xưa do hạn chế về thời đại   hội trọng nông trọng thương nên các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào PhúcLộcThọ, Binh,  trọng nam khinh nữ, “y tượng phân lưu” (tách biệt giữa chữa trị  xem tướng). Như vậy còn  rất nhiều lĩnh vực chưa được đề cập tớicần phải bám vào hiện trạng  nhu cầu của  hội để  những bước nghiên cứu tiếp theo về mật  sinh mệnh vân tay. 

Thứ tư, cùng với sự sáng lập  phát triển phương pháp châm cứu, “thủ tạng tượng” (nghiên cứu các phủ tạng qua hình dạng tay) đã mở ra phương pháp tư duy mới cho việc chẩn đoán sinh mệnh qua vân tay. 

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của người xưa, cộng với nhiều năm nghiên cứu của bản thân, tôi thấy rằng tượng tay  một chỉnh thể phức hợp nhiều tầng về cơ thể. 

Phát hiện đầu tiên  tượng tay hiển thị 3 hình người thu nhỏ trên tay. 

Thứ nhất  hình người thu nhỏ  phần đầu nằm trên ngón tay giữađỉnh đầu trên đầu mút ngón tay  phủ phục ở mặt lưng ngón tay, nên gọi  huyệt khu “tượng phủ phục”. Đây  khu tướng tay trên phần mu. Đôi ứng với   khu tướng tay trên lòng bàn tay. 

Hình người thu nhỏ thứ hai  thứ, ba lộn ngược so với hình người trên, đầu hướng xuống dưới, chân lộn lên trên, cuộn như hình thai nhi, na  như hình cái tai. Hai hình người thu nhỏ này một cái nằm ở  xương cổ tay của ngón tay cáimột cái nằm ở  xương trụ cẳng tay của ngón tay út thể nói đây  hai mật  tổng thể khác về sinh mệnh. 

Từ đó tôi phát hiện thêm rằnghình tướng hiển thị trên lưng của 5 ngón tay (mu bàn tay)  mật  sinh mệnh phần lưng của con ngườihình tướng hiển thị trên mặt trong của 5 ngón tay (lòng bàn tay)  mật  sinh mệnh phủ tạng của con ngườingón trỏ  ngón cái kết hợp với nhau tạo thành mật  sinh mệnh tổng thể của một cơ thểngón tay áp út  ngón tay -út kết hợp với nhau cũng vậyNgười xưa đã không đi theo mạch tư duy  chúng ta vừa đưa ra, chưa thoát khỏi huyệt vị kinh lạc, thiên địa phủ tạng, chưa nghiên cứu hệ thống dấu hiệu hiển thị ra bên ngoài từ các hình tướng trên. Bởi thế, nên không thể sáng lập ra hệ thống toàn tức sinh mệnh để giải  sinh mệnh được. 

Thứ năm, “khoa học nghiên cứu về vân da” của người phương Tây cho chúng ta thấy người phương Tây đã ý thức được rằng các bệnh biến sinh  của các bộ phận trong cơ thể người đều hiển thị trên vân tay, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các  dụ  tích luỹ số liệuchứ chưa đứng ở góc độ  mô xem xét con người  một hệ thống sinh mệnh lớntừ quy luật vi mô trên bàn tay, lưng bàn tay, từ tầm  mô của mật  sinh mệnhcủa khoa học sinh mệnh nhân thểtừ quy tắc, quy phạm thông tin tổng thể  trụ, thiên nhân hợp nhất để tổng kết, đưa ra một hệ thống chặt chẽnghiệm chứng thực tế  thể thao tác được... Những  chúng tôi đã làm  những  chúng tôi trình bày trong cuốn sách này chính  đang xây dựng hệ thốhg đó. 

Thứ sáu, cho đến nay, giới Đông y, giới khí công, giới khoa học nghiên cứu vân tay ở phương Tây, giới tượng tay học mới xuât hiện ở Đông Dương, giới tượng'tay họctượng mệnh học ổ Trung Quổc  khu vực Đông Nam Á, vẫn quy ước rằng: nam trái nữ phải; nam xem bên tráinữ xem bên phảitrái tiên thiên, phải hậu thiên; cha bên tráimẹ bên phảichồng bên tráivợ bên phải... Đây  những sai lầm về mặt  luận truyền thông của triều đại phong kiến. Căn nguyên của   thể  “thiên tôn địa ti”, “nam tôn nữ ti”. Đó  giới hạn lịch sử của thời Ngày nay người ta vẫn còn tin theo đó  cái cặn Bởi thế đã trói buộc sự phát triển tiếp theo của khoa học sinh mệnh truyền thống. 

Chúng tôi đã xây dựng nên hệ thông định vị mật  sinh mệnh đốì ứng'giao thoa giữa bàn tay tráibàn tay phải với phủ tạng cơ thểTừ đó  thể giải thích  thao tác một cách toàn diện mật  sinh mệnh cơ thể ngườiđồng thời loại bỏ những cách định vị sai lầm của phương pháp “đồ chẩn tay” trước đây, xây dựng nên hệ thông định vị mật  tổng thể về sinh mệnh Thiệu  Hoa. 

Hệ thông định vị mật  sinh mệnh Thiệu  Hoa  những nội dung chính như sau: 

Định vị mật  tổng thể lòng bàn tay 

Lòng bàn tay trái  phải đều  hình thể hiện lục phủ ngũ tạng trong cơ thể liên thông với huyệt vị kinh lạc thuộc hệ thông phủ tạngLòng bàn tay còn  môi quan hệ với các dấu hiệu vân tay. Khi lòng bàn tay hướng lên trên, lấy ngón tay giữa làm mốcvị trí phủ tạng được thể hiện trên tay trái phải tương phản nhau. Tức , khi lòng bàn tay trái hướng lên trên, ngón tay giữa  phần đầungón tay trỏ  ngón tay cái đối ứng với phủ tạng  chi bên phải của cơ thểlòng bàn tay phải hướng lên trên, ngón giữa đối với phần đầungón trỏ  ngón cái đối ứng với phủ tạng  chi bên trái của cơ thểcòn ngón áp út  ngón út đối ứng với phủ tạng  chi bên phải cơ thể (Hình 38). 

Khi bàn tay tráiphải hướng xuống dướiphủ tạng của cơ thể đối ứng với các ngón tay sẽ thống nhất với vị trí thực tế của chúng trên cơ thể (Hình 35). 

Khi lòng bàn tay của cả hai tay tráiphải đều hướng lên trên, nhìn đồng thời thì thấy tay trái đối ứng với phủ tạng  chi bên phải của cơ thể; tay phải đối ứng với phủ tạng  chi bên trái của cơ thể. (Hình 56). 

Định vị mật  sinh mệnh bàn tay đơn 

Trên mỗi bàn tay  5 tượng thông tin về sinh mệnh: 

Tạng thủ phục  tượng sinh mệnh hình người thu nhỏ (Hình 38). 

Ngón tay cái  một tượng sinh mệnhĐốt tay thứ nhất  đầuđốt tay thứ hai  cổđốt tay thứ ba  tim, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hoá  cơ quan sinh sản (Hình 42, 43). 

Đường sinh mệnh  một tượng sinh mệnhĐầu ở ngón tay cái (hoặc  Mộc tinh), nhưng đoạn khởi đầu của đường sinh mệnh cũng  thể xem  đầutiếp theo  dạ dàyđường hô hấp trên, đoạn ruột nối dạ dày  ruột non, tiểu tràng (ruột non), đại tràngthậnhội âm, đầu gốiống chân (Hình 42, 43). 

Ngón tay cái  ngón tay trỏ hợp với nhau tạo thành tượng sinh mệnh rìa bàn tay trong. Đầu ở xương cổ tay, do đó mệp ngoài ngón tay cái  hệ thống hô hấpmép trong   láchdạ dàyhệ tiêu hoáđường ruộtĐó   do tại sao nói  Kim tinh chủ  láchdạ dàyNgón cái  chi trên tráiphảingón trỏ  chi dưới tráiphải (Hình 41)7 

Ngón út  ngón áp út hợp với nhau thành tượng rìa bàn tay ngoàiĐầu nằm ở xương trụ cẳng tay,  thế đầu cuối  Nguyệt chủ phổi  các cơ quan hô hấp, nhưng  ngón út chủ thậnchức nống sinh sảnmệnh môn, ngón út chủ chi trên trái phảingón áp út chủ chi dưới trái phải (Hình 41). 

Lấy ngón giữa làm chuẩnđường trục giữa dọc từ đầu ngón tay đến  Địa  trung mạch của tạng thủ phụcđầumắtmũimồmhọngkhí quảnphổi, tim, rốnthận, cơ quan sinh dụchội âm. Hai bên tay trái phải đôi xứng  hợp với nhau thành tượng sinh mệnh chỉnh hợp của cơ thể người (Hình 42, 43). 
Chú thích đặc biệt 
 

 
Hình vẽ định vị mật  sinh mệnh chẩn trị lòng  mu bàn tay của Trịnh  Mỹ sử dụng tổng hợp cả mật  tượng thủ phụctạng thủ phụctượng mép tay, tạng mép tay, cũng như các hình trong lòng  trên mu bàn tay truyền thống của người Trung Quốc, tương đối  nétthích hợp dùng cho xoa bóp, châm cứuChúng ta  thể dùng  trong việc tìm kiếm mật mã'vân tay  phán đoán ý nghĩa của mật  vân tay.Tam gian (tiêu hoá không tốt, hen suyễn) 

 Nhị minh (cận thị) 

Điểm nhãn (đau mắt. xung huyếttổn thũng ngoài mắt) 

Hình 36: Vị trí chẩn trị trên cạnh bàn tay  mu bàn tay 
 

 

Chú thích đặc biệt 

Hình nhánh (1) của hình này thực tế  hình tạng (tượngrìa ngoài lấy ngón út làm chủhình nhánh (2) thực tế  hình tượng thủ phục do ngón cái  ngón trỏ tạo thànhđầu ngón  phần đầu. 

Hình này thể hiện  nét từng điểm huyệt vị để  cách chẩn trị bệnh tương ứng ý nghĩa định tính của mật  sinh mệnh. 

Chú thích dặc biệt 

Đây  hình chẩn đoán bàn tay khí công, dùng cảm khí để chẩn bệnhtức ỉà thầy khí công dùng thể khí để cảm ứng vị trí bệnh trong cơ thể người bệnh, trên từng bộ phận tương ứng của cơ thể sẽ xuất hiện cảm giác tê, mỏichướngnónglạnhnhức, đau nhóisắc khí thay đốitừ đó  thể chẩn đoán bệnh tình của người bệnh. 

Phương pháp định vị tượng tay này dùng phương pháp “kinh thủ túc tam âm tam dương” của Đông y truyền thốngTừ lưng ngón cái đến lưng ngón út đến sát mặt cạnh của xương cổ tay  dương, theo thứ tự kiểm tra bệnh khíbệnh biến của ngũ phủdạ dàymậttiểu tràngđại tràngbàng quang. Từ ngón cái đến bụng ngón út  đến sát mặt bên của xương trụ cẳng tay  âm, theo thứ tự kiểm tra bệnh khíbệnh biến của ngũ tạng lách, gan, tim, phổithận. 

Trên đây  một số nội dung về định vị phủ tạng cơ thể trên bàn tay, ngón tay, độc giả  thể kiểm chứng thêm trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân mình. 

 

Hình 38: Định vị mật  sinh mệnh trên lòng bàn tay phảitrái của Thiệu  Hoa 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu trữ thực tế đã giải đoán