CHƯƠNG 10:
CÁC ĐƯỜNG CHỈ TAY CHÍNHĐường sinh mệnh còn gọi là dường sinh đạo, thường xuất phát từ phần đáy gò mộc tinh, vòng quanh gò mộc tinh và kết thúc ở cổ tay. Đường sinh mệnh có liên quan trực tiếp đến bụng, tim và các mạch sống của cơ thể, nén có thế quyết định sức khỏe, bệnh tật của con người. Đường chỉ này tốt nhất là thảng, rõ ràng và không bị đứt quãng hay bất quy tắc (hình 1).
Đường trí não, còn gọi là đường trí đạo, song song với đường tình cảm, thông thường khởi phát từ gò mộc tinh và kết thúc ở gò hỏa tinh thứ hai, biểu thị trí tuệ của con người, là đường chỉ quan trọng nhất trên bàn tay. Hình dạng có các kiểu cong, thẳng, ngang, xéo v.v... Nếu các đường chỉ tay đều tốt mà chỉ có đường trí não xấu thì mọi ưư điểm đều sẽ giảm đi (hình 2).
Đường tình cảm
Đường tình cảm, còn gọi là đường tâm đạo, khởi điểm ở viền dưới ngón út, ngang qua bàn tay. Thường kết thúc ở phần đáy ngón trỏ. Đường này chỉ đại diện cho tình yêu về tinh thần, vì nằm ở trên đường trí não, nên thuộc tình cảm chứ không chì nói về ham muốn xác thịt. Đường tình cảm sâu và rõ, màu sắc sáng láng là tốt (hình 3).
Đường vận mệnh (đường sự nghiệp)
Đường vận mệnh, còn gọi là đường may mắn, biểu thị cả cuộc đời, tượng trưng cho mọi cảnh ngộ trong tương laí, như thành bại, họa phúc, lành dữ..., tất nhỉcn đường này không phải ai cũng có. Hơn nữa khởi điểm của nó cung mỗi người mỗi khác, có người bắt đầu từ đường sinh mệnh, có người bắt đầu từ cổ tay, có trường hợp bắt đầu từ gò thái dương, cũng có trường hợp bắt đầu từ giữa bàn tay và các bộ vị khác. Đường vận mệnh nếu xuất hiện ở bàn tay triết học, bàn tay hình nón hoặc bàn tay tinh thần cho thấy những người này rất tin vào vận mệnh, nếu xuất hiện ở bàn tay hình vuông hoặc bàn tay lược bí thì họ không mấy tin (hình 4).
Đường thái dương
Trên bàn tay có đường chỉ này cho thấy người này có thể đạt được thanh danh, phú quý và thành công, người thiếu đường chỉ này trên bàn tay tuy thông minh tuyệt thế và có tài năng đăc biệt, nhưng vẫn không thể tự thể hiện. Đường thái duơng cần có đường vận mệnh tốt phối hợp sẽ tốt hơn (hình 5).
Đường sức khỏe
Đường sức khỏe thường bắt đầu từ gò thủy tinh, xuyên chéo qua bàn tay. Đường chỉ này thường cho biết tình trạng sức khỏe của người đó, khi quan sát nên phối hợp với đường sinh mệnh và móng tay. Đường sức khỏe cũng biến đổi vô thường, ẩn hiện bất định, nhưng không xuất hiện là tốt hơn cả. Người thiếu đường chí này có thể trạng tốt, hệ thần kinh hoàn chỉnh (hình 6).
Đường hôn nhân
Còn gọi là đường tình duyên. Đường này bắt đầu từ mé bàn tay, kéo dài đến gò thủy tinh, nếu rõ ràng và sâu cho thấy có nhân duyên mỹ mãn; nếu nhỏ, mờ chỉ cho thấy có tình yêu mà thôi. Đường này chủ yếu biểu thị việc có dễ chung sông với người khác giới hay không (hình 7).
Đường si tình
Đường chỉ này cho thầy người đó thời trẻ từng yêu hoặc yêu thầm một người, vì không thể đến với nhau nên vẫn mãi ôm ấp trong lòng. Ngoài ra đường này còn cho thấy người đó thường hoài niệm sâu sắc về người thân đã quá cố (hình 8).
Đường trực giác
Đường này cho thấy người đó có một trực giác, linh cảm mạnh mõ, hơn nữa còn có thể biến ước mơ thành hiện thực (hình 9).
Đường du lịch
Nhóm đường chỉ này biểu thị du lich> nếu màu đường chỉ rồ ràng tươi tắn cho thấy chuyến hành trình bình an; nếu màu tói cho thấy chuyến đi gặp nhiều nguy hiểm (hình 10),
Vòng kim tinh
Nhóm những đường chỉ này biểu thị sự hiếu sác> nếu chưa kết hôn thì ham muốn tìm bạn đời; Nếu đă kết hồn thì sự hiếu sắc càng mạnh mè, không bình thường (hình 11),
Giải thích dâu hiệu hình đường chỉ
Đường chị em: Còn gọi là đường kép, tức đường phụ song song với đường chính. Rất nhiều đường chỉ có hiện tượng này, thí dụ đường sinh mệnh kép, đường tình cảm kép v.v... Tác dụng của đường này là tăng cường sức mạnh của đường chính. Đường chính không có khuyết điểm, nếu dược đường phụ phôi hợp thì sức mạnh sẽ tăng gấp bội; đường chính có khuyết điểm, như đứt quãng hoậc nứt thì có thể bù đắp khiếm khuyết và cúu vãn đường chính, điềm cát hung thì xem có bù đắp được hay không.
Đường hình chạc: Tức khởi đầu hoặc điểm cuối của đường chi phân nhánh hình chạc. Nếu phân nhánh đi lên thì cát, còn đi xuống thì không cát (đi về phía ngón tay là di lên, đi về phía cổ tay là đi xuống). Không thể xem thường loại đường này, vì sức mạnh cát hung của nó ảnh hưởng rất mạnh.
Đường tua cờ: Tức điểm cuối đường chính phân các đường nhánh dạng tua sang hai bên, đường này sẽ làm suy yếu hoặc phá hoại sức mạnh vốn có của đường chính, nhưng không thể một mực cho là hung, thí dụ đường phát minh không thuộc về hung.
Đường nhánh: Tức là đường phân ngã rẽ bèn cạnh đường chính. Đường này đi lên cho thấy sức mạnh của dường' chính sẽ được tăng cường, đi xuống thì đường chính bị suy yếu.
Đường vết đốm: Tức trên đường chỉ có vết đốm, đường này là điềm không lành, vết đốm càng lớn càng đen thì càng dữ.
Đường sóng nước: Tức là dường cong, hình dạng trồng như sóng nước, đường này cho thấy sức mạnh của đường chì chính bị suy yếu, thí dụ đường sinh mệnh có dạng sóng nước thì đường sinh mệnh suy yếu; nếu đường tình cảm có dạng sóng nước thì tình cảm như hoa trong gương, trăng dưới nước.
Đường hình chuỗi: Toàn bộ hoặc một phần đường chính do rất nhiều vòng tròn nhỏ bất quy tắc hoặc đường ngăn đan xen tạo thành, đó là biểu trưng của sự trộn lẫn không thuần, bề bộn bừa bãi, là dấu hiệu không cát, trỏ ngại và không thuận lợi.
Đường hình đảo: Tức trèn đường chỉ xuất hiện dạng tuyên hình vòng cung bất quy tấc, đó là điềm không lành, có tác dụng phá hoại, cũng biểu thị chướng ngại và trở lực.
Đường đứt nối: Tức là đường đứt rồi lại nối. Đường này cũng là dấu hiệu không lành, nhưng mức độ không lành của nó tùy thuộc nó là loại đường nào, nó cũng có khả năng chuyển dổi hoàn cảnh.
Đường có ò vuông bảo vệ: Tức trên đường chỉ có ô vuông, đường này có khả năng bảo vệ rất lớn, gặp hung hóa cát. Nếu vượt qua giữa đường sinh mệnh thì người đó hoặc có tính tự kỷ, hoặc bị cầm tù.
Đường dạng lòng: Tức các dường nhỏ phân nhánh từ hai bên đường chỉ, đường này phá hoại sức mạnh vốn có của dường chính, làm giảm vẻ đẹp của đường chính. Nhưng nếu đì lèn thì tốt, còn đi xuống thì không tốt.
Đường lông chùm: Tức đường có dạng giông như chùm lông. Đường này cũng phá hoại sức mạnh của đường chính, là dấu hiệu không cát, xuất hiện ở bộ vị nào thì phá hoại bộ vị ấy.
Đường bất trắc: Tức đường tạp có đầu to đuôi nhỏ. Đường này là điềm hung, nếu thấy ở gò thổ tinh thì bất lợi nhất.
Chữ thập: Tức đường giao thoa hình chữ thập. Chữ thập này xuất hiện ỏ bất kỳ đường chính nào cũng là điềm hung; nếu xuất hiện một mình, không dựa vào bất kỳ đường chính nào thì tùy thuộc vào vị trí xuất hiện của nó mà quyết , nhưng tuyệt đại đa số là chủ về hung. Có một bộ phận nhỏ là chủ về cát, như lòng bàn tay có đường chỉ chữ thập là có tài năng và sức mạnh thần kỳ.
Hình đảo: Hình đảo này khác với hình đảo xuất hiện trên đường chỉ, là chỉ hình đảo xuất hiện đơn độc mà không áp vào đường chỉ nào. Chỗ nào có hình đảo là ưu thế chỗ đó bị phá hoại.
Tam giác: Sự cát hung của nó tùy thuộc vào vị trí nó xuất hiện, phần lớn các vị trí là cát, rất ít là hung, như trên dường sinh mệnh xuất hiện hình tam giác thì trước 50 tuổi sẽ phải phẫu thuật, hình dạng càng nhỏ thì phẫu thuật càng lớn.
Khối vuông: còn gọi là hình vuông, hình tứ giác hoậc ô vuông. Phần lớn ìà chủ về cát, chỉ có một bộ phận nhỏ chủ về hung, cát hung phải phân biệt rõ ràng.
Hình hoa Sâo: Vì tròng giống hình ngòi sao nên được đặt tên như vậy. Đa số vị trí là cát, một số ít vị trí chủ về hung. Đó là dâu hiệu cát hung họa phúc, không thể xem thường.
Hình mắt lưới, còn gọi là đường chỉ mắt cáo. Ngoài một bộ phận rất nhỏ, còn lại đều chủ về không cát hoặc điềm hung, nhất là khi bị sự cố hoặc bệnh tật thì sức ảnh hưởng rất lớn.
Hình chạc ba: Vì có hình chạc ba nèn có tên như vậy. Đầu chạc hướng lên thì cát, hướng xuống thì hung, đâm dến bộ vị nào thì bộ vị ấy sẽ biến đổi.
Đường sinh mệnh
Đường sinh mệnh thường bắt đầu từ giữa mép bàn tay đến phần gốc ngón trỏ. Nó tượng trưng cho khả nâng duy trì sự sống, khả năng thích ứng và trạng thái sức khỏe của con người. Đường sinh mệnh ro, sâu dài, cho thấy khỏe mạnh, trường thọ; khả năng thích ứng với môi trường rất tốt.
Đường sinh mệnh tốt (hình 12) phải có độ cong khá lớn, phần đuôi phải đến giữa cung khảm, cung cấn, cho thấy cuộc sống thành đạt ờ tuổi trung niên và yên ổn tuổi già.
Phần diện tích trong phạm vi vòng cung bên trong đường sinh mệnh biểu thị cuộc sống và tâm tình của con người. Nếu phạm vi đường sinh mệnh lớn, cho thấy khí độ rộng lượng của người đó. Khả năng thích nghi với môi trường rất tốt, tâm tình cởi mở vui vẻ, giao thiệp rộng. Nếu đường sinh mệnh có độ cong nhỏ, đường chỉ nông, cho thây người dó lòng dạ hẹp hòi, hay so đo, cò chấp, khó thích ứng với môi trường, lòng đò’ kỵ nặng, thậm chí có lối sống bảo thủ.
Y nghĩa vê sự khởi đầu của đường sinh mệnh
Đường sinh mệnh khởi dầu cao khởi nguồn từ cung Tòn (gò mộc tinh), cho thấy người đó tỉnh táo, có khả nãng tự kiềm chế, có hoài bão lớn, thông minh, tài trí, dễ thành công. Nếu trên đường chi xuât hiện hình tam giác cho thấy tinh lực sống và khả nảng kiềm chế tăng thêm, giàu lý trí.
Đường sinh mệnh khởi đầu thấp, (hình 13)
hơn gốc ngón cái đến trung điểm gồc ngón trỏ, cho thấy người đó thiếu khả năng tự kiềm chế, hiếu động, hiếu thắng, dễ kích động, không thích đọc sách.
Cách đo: hơi ép sát ngón cái vào, lấy độ dài từ đường gốc ngón cái đến gốc ngón trỏ làm độ dài đo, từ tâm điểm đó vẽ đường kéo ngang, nếu cao hơn là đường sinh mệnh cao, người đó giàu lý trí; nếu thấp hơn là đường sinh mệnh thấp, người đó thiếu khả năng kiềm chế.
Khởi đầu có dạng chuỗi bất quy tác, trong đó thường thây nhất là quấn với khởi đầu đường trí não mà thành, cho thây người dó thời nhỏ nhiều bệnh, tuổi thơ sức khỏe không tốt, khả năng hiểu biết và cảm nhận chậm chạp, ngay cả thời gian học nói và học đi cũng dài hơn các trẻ khác.
Đường chỉ dạng chuỗi khối đầu của đường sinh mệnh nếu rõ và sâu, ngoài thời tuổi thơ sức khỏe không tốt ra, còn cho thấy việc học hành bị ngăn trở, người đó trước 19 tuổi chán học, dù miễn cường đi học cũng chảng có kết quả gì.
Đường chỉ dạng chuỗi nếu nông nhạt cũng cho thấy thời tuổi thơ sức khỏe không tốt và đường học vấn bị cản trở, nhưng tình trạng còn tốt hơn trường hợp nêu trên, tuy trước 20 tuổi không chăm chỉ học hành, nhưng đến lúc thích hợp sẽ cố gắng phấn đấu.
Khởi đầu đường sinh mệnh phần lớn có đường nhánh nòng nhỏ, cho thấy tuổi thơ được cha mẹ chăm sóc bảo bộc, đường nhánh nhiều và xéo xuống mép bàn tay thì chỉ đơn thuần được cha mẹ chăm sóc, nêu đường nhánh xéo lên mép bàn tay thì ngoài cha mẹ ra còn được người thàn chăm sóc. Nếu cả hai trường hợp dều có là khởi đầu dạng lông, cho thấy thời kỳ còn nằm trong nôi hay mắc bệnh.
Khởi đầu đường sinh mệnh được tạo bởi rất nhiều đường chỉ nhỏ đứt quãng, cho thây người đó tuổi thơ có hoàn cảnh sông phức tạp, phần lớn là theo cha mẹ xa quê hoặc sông xa cha mẹ.
Đường sinh mệnh khởi đầu thành đường chỉ dạng chuỗi to nhỏ khác nhau, lại có đường chỉ tạp loạn bất quy tắc, cho thấy người đó gặp trắc trở trong việc học, hoặc phần lớn phải dựa vào sự phấn đấu của mình đế’ tiếp tục việc học. Nếu có hiện tượng như ở trường hợp (7) thì phần lớn là bỏ học một thời gian thậm chí thất học.
Đường sinh mệnh có một đường chính rõ ràng, nhưng có hiện tượng tạp loạn mọc lông, trong phạm vi ngón trỏ lại xuất hiện đường chỉ đảo, cho thấy người đó thời thanh niên (khoảng 15-20 tuổi) vì hoàn cảnh gia đình hoặc vì bản thân mắc bệnh nên bỏ học.
Đường sinh mệnh khởi đầu từ mép bàn tay, đường chính rõ ràng và độ cong hình thành rất lớn, đường trí tuệ tương đói dài, cho thấy người đó học thức uyên bác. Nếu đường trí tuệ hơi nhỏ, cung cho thây người đó có kiến thức hơn cả bằng cấp.
Ý nghĩa sự gián đoạn của đường sinh mệnh
Sự gián đoạn của đường sinh mệnh có hai hiện tượng khác nhau, một là gián đoạn đứt đoạn, một là gián đoạn đan xen.
Đường sinh mệnh bị đứt đoạn, cho thấy người đó bị bệnh khá năng, khoảng cách vị trí đứt càng dài thì bệnh tật càng lâu khỏi. Nếu gián đoạn đan xen nhau thì tuy cũng có bệnh tật, nhưng bệnh chóng lành.
Nêu gián đoạn có 2 chỗ trở lên, khoảng cách gián đoạn đều rất nhỏ thì cơ thể suy nhược, nhiều bệnh, nhưng phần lớn là bệnh nhẹ, dễ chữa dễ mắc.
Nếu khoảng cách gián đoạn của đường sinh mệnh rất lớn, cho thây triệu chứng bệnh rất nặng, thậm chí có thể nguy đến tính mạng. Nêu hai bên gián doạn khoảng cách lớn có đường chỉ ngang hình thành đường vòng hình vuông, cho thấy bị bệnh năng nhưng có thể biên nguy thành an.
Ý nghĩa của gián đoạn đan xen phần nhiều là trục trặc về tâm lý. Thòng thường cho thấy người đó hơi nhạy cảm, hoặc thích dò hỏi chuyên riêng tư của người khác.
a. Gián đoạn giả xảy ra ở dầu trên đường sinh mệnh (hình 19) khiến đường sinh mệnh có dạng giao nhau trên ngắn dưới dài, cho thấy người đó phần nhiều thiếu tình mẹ, nếu không phải là mẹ xa nhà mưu sinh hoặc ly dị vái cha thì ắt là sớm mồ côi mẹ, người mà “mẹ đẻ mất, mẹ kế nuôi” thường có đường sinh mệnh trên ngắn dưới dài, đồng thời ở khởi đầu đường sinh mệnh có hiện tượng gián đoạn đan xen.
b. Gián đoạn đan xen xảy ra ở đầu dưới đường sinh mệnh (hình 20) khiến đường sinh mệnh có dạng giao nhau trên dài dưới ngắn, phần nhiều là sống với mẹ kế, người đó thường kém cha 30 tuổi trở lên, thậm chí có trường hợp từ nhỏ đă mất tình cha.
Ý nghĩa dộ lớn nhỏ, nông sâu của đường sinh mệnh
Sự lớn nhỏ nông sâu của đường sinh mệnh cũng có hám nghĩa của nó. Độ nông sâu cho thây khả nãng thích nghi với môi trường, độ lứn nhỏ cho thấy khả nãng tự kiềm chế. Đường sinh mệnh sâu thì tấm lòng rộng rãi, bao dung; khả năng thích ứng tốt. Đường chỉ nông thì thiếu lòng bao dung và nhẫn nại, chì có thể thích ứng được với môi trường phức tạp. Đường chỉ to thì khả năng kiềm chế tốt.
Đường sinh mệnh nồng nếu rộng thì thiếu khả nàng tự kiềm chế và thích ứng, phần lớn là cơ thịt phát triển, có sức mạnh; nếu nhỏ thì đề bị kích động, nên phải tu thân dưỡng tính, tự ràng buộc mình (hình 21).
Đường sinh mệnh sâu cho thấy thân tâm phát triển cân băng, tinh thần dồi dào, thần kinh khỏe mạnh, phần lớn đều lạc quan, vui vẻ (hình 22).
Ý nghĩa của phần đuôi đường sinh mệnh
Phần đuôi đường sinh mệnh tương đối nông nhạt cho thấy sức khỏe suy giảm dần theo tuổi tác, nếu tách thành hình chạc cho thấy về gíà sức khỏe khống tốt, thậm chí mác bệnh nằm liệt giường (hình 23).
Phần đuôi đường sinh mệnh phần lớn kết thúc ở cung Khảm (chủ về căn cơ) hoặc giữa cung Khảm và cung cấn (chủ về anh em bạn bè), cho thây người đó ở nhà dựa vào cha mẹ, ra ngoài nhờ vào bạn bè, nếu hình thành độ cong lớn và gập vào cưng Cấn thì người đó chú trọng nghĩa khí bạn bè, nhưng phần lớn là hưởng thụ vật chất, rất dễ chìm đắm trong tửu sác, nhất là đường trí năo lại bi cong, thì ham muốn hưởng lạc càng mãnh liệt. Nếu đường trí năo có biểu hiện xấu hơn có thể chuốc họa vì tửu sắc, thậm chí có tai kiếp sát thân (hình 24).
Phần đuôi đường sinh mệnh tuy đi vào cung Cấn, nhưng nếu độ cong đường tương đối nhỏ, cho thấy về già hoạt động bất tiện. Nếu dường chỉ sâu rõ, người đó sẽ dành phần đời còn lại cho tôn giáo. Nếu đường chỉ nông yêu cho thây về già chân tay không thể hoạt động tự do, hoặc vì mắc bệnh phải nằm viện lâu dàì(hình 25).
Nêu đường sinh mệnh kết thúc ở cung Khảm: tượng trưng cho sự phá hoại, cho thấy người đó thiếu khả năng tự kiềm chế, có nguy cơ phá hoại tổ nghiệp, thậm chí cả đời lênh đênh trôi dạt. Nếu xảy ra trên bàn tay nữ giới thì chủ về chậm kết hôn hoặc hôn nhân không hòa hợp. Đường chỉ này cũng cho thây mẹ bị tai nạn về nước. Ngoài ra, nếu trong cung Khảm có đường chỉ xung phá đường sinh mệnh, cho thấy mẹ bị bệnh thận hoặc ung thư mà chết; hoặc có tai nạn do rơi xuống nước (hình 26, 27).
Phần đuòi đường sinh mệnh không cong, xung vào giữa cung Đoài và cung Khảm, hoặc kết thúc ở cung Càn, cho thấy người dó ít gặp mẹ, đồng thời còn cho thấy người đó bị tai nạn xe thuyền, hoặc mẹ người đó có kim ách (tai nạn do kim) (ngày xưa coi kim chủ phế, càn là đầu, mẹ có kim ách thì chủ về mẹ chết vì bệnh phổi, đường hô hấp, não bộ v.v..., hoặc chết do phẫu thuật vì bất cứ bệnh nào, cũng có thể tử vong do tai nạn xe cộ) (hình 28).
Dâu hiệu trên đường sinh mệnh
Đường chỉ dạng lòng uà dạng tua cờ: Đường chí dạng lông phần lớn do nhiều đường chỉ hình chữ “V” tạo nên, thường thấy ở phần đầu đường sinh mệnh, hoặc phần đầu sau khi gián đoạn, cho thầy sự gia tàng của sinh mệnh, tức là ngày càng khỏe mạnh hơn, dù chỉ có một đường chĩ chữ “V” cũng có luận đoán tương tự. Đường chỉ tua cờ do nhiều đường chỉ hình chữ “V” ngược tạo thành, cho thây thể chất ngày một suy giảm. Thường gặp ở phần đuôi đường sinh mệnh, nếu thây một đường chỉ hình chữ “V” ngược duy nhất ở tận cùng phần đuôi đường sinh mệnh thì cũng đoán là sức khỏe suy yếu theo tuổi tác (hình 29, 30).
Đường chỉ chữ “thập” hoặc đường chỉ chữ “mễ” ( (X) ), dường chi hình hoa sao: Cho thấy người đó bị mắc bệnh hoặc tai nạn ngoài ý muốn nguy hiểm đến tính mạng ở độ tuổi có dấu hiệu xuất hiện. Nêu các dấu hiệu đó không xuất hiện trên đường sinh mệnh, mà xuất hiện ở gần đường sinh mệnh, nhưng có một phần chạm vào đường sinh mệnh cho thấy năm đó sẽ xảy ra một sô chuyện không vui liên quan đến người thân (phán đoán năm theo phép suy đoán lưu niên đường sinh mệnh) (hình 31).
Đường chỉ hình đảo hoặc đường chi hỉnh vòng: Từ vị trí của nó suy ra sức khoẻ suy nhược, tinh thần ủ rũ năm đó, nhưng phần lớn là bệnh hại. Nếu trở thành dạng đảo liên chuỗi (tức đường chỉ dạng chuỗi) thì phần lớn chỉ xuất hiện trong phạm vi ngón trỏ ở khởi đầu, nếu vượt quá phạm vi ngón trỏ cho thấy thể chất người đó suy nhược, khả năng kháng bệnh yếu, bệnh tật không khỏi, dù có khỏi cũng tái phát (hình 32).
Nếu trên đường sinh mệnh xuất hiện vết đốm là dấu hiệu cảnh báo có thể có bệnh tiềm ẩn, cần đi khám ngay. Nếu vết đốm tối hoậc có màu xanh đen cho thấy người đó đã nhiễm bệnh nặng (hình 33).
Phân tích đường sinh mệnh
Đường sinh mệnh sâu dài là tốt, cho thấy người đó có tinh lực dồi dào, khỏe mạnh, trường thọ. Nếu sâu thì khả năng thích nghi mồi trường tốt; nếu hẹp thì khả nàng tự kiềm chế tốt; dài thì khỏe mạnh sống lâu.
a. Đường sinh mệnh cong ra ngoài, hình thành gò rộng: cho thây người đó là người nhiệt tình, có sự đồng cảm, có sức hấp dẫn người khác giới, tinh lực dồi dào, tâm lòng rộng rãi, thích hoạt động xã giao và hoạt động đoàn thể, phần lớn kết hôn sớm và nhiều con, dễ có khuynh hướng sắc dục (hình 34).
Độ cong đường sinh mệnh lớn gò kim tinh rộng: lãng mạn dối với người khác giới, thậm chí táo bạo nhiệt tình. Nếu đường trí não lại cong theo đường sinh mệnh thì nhu cầu sắc dục rất mạnh, dễ gặp rắc rối trong tình cảm. Nếu độ cong nhỏ gò kim tính hẹp thì tinh lực yếu, hướng nội, thiếu sức cuốn hút đối với người khác giới.
b. Đường sinh mệnh ngắn: Nếu đường sinh mệnh ở hai tay đều ngắn cho thấy sinh mệnh của người đó chỉ duy trì dược đến tuổi trung niên, khó hưởng thọ cao. Nếu có dường trí não tốt (phảng thẳng không cong), ngón tay cứng khỏe thì sống thọ thêm 9-20 nàm. Nếu chỉ có đường sinh mệnh của một tay ngắn thì không thể nói là đoản thọ, chỉ cho
thấy người đó có thể chất yếu, dễ mệt mỏi, dễ bị xơ hóa mạch máu (hình 35).
Nếu đường sinh mệnh kết thúc đột ngột, lại thấy gò thổ tinh dưới ngón giữa có điểm đen cho thấy người đó có nguy cơ mắc bệnh liệt, nhất là khi trên đường trí não đồng thời xuất hiện đường chữ thập hoặc diêm đen thì càng linh nghiêm
c. Đường sinh mệnh có dạng khóa hoặc gián đoạn rất nhỏ cho thấy người đó nhiều bệnh, hoặc bị bệnh mạn tính giày vò. Mỗi chuỗi và mỗi đường đứt cho thấy khả năng kháng bệnh của ngươi đó dần suy yếu, hoặc khả năng duy trì sinh mệnh dần suy giảm (hình 37)
Đường sinh mệnh do nhiều đường chi nhỏ đan nhau tạo thành: cho thấy thể chất người đó rất hư nhược. Có khả năng bị suy nhược thần kính hoặc tâm thần phân liệt, hoặc ngươi đó bị bệnh tật giày vò, sức khoe không ổn định hoậc hay mắc bệnh (hình 38).
Đương sình mệnh có nhiều đường chỉ nhỏ cắt qua giống như dạng lông cho thấy người đó bị suy nhược thần kinh, thậm chí bị tâm thần phân liệt, phần lớn là cơ thể hư nhược, tâm trạng nóng nảy, thương cảm thấy phiền muộn, lo lắng (hình 39).
Đường sinh mệnh không được gián đoạn ở cả hai tay, nêu ở chỗ gián đoạn của đường sinh mệnh có đường chỉ hình vuông bảo vệ cho thây có thể chuyển nguy thành an, nêu ở chỗ gián đoạn đường sinh mệnh có đường chỉ dạng đảo cho thây thể chất người đó suy yêu sau khi mắc bệnh, sức khỏe không được như trước (hình 40, 41)
Đường sinh mệnh có đường chỉ dạng đảo
Đường sinh mệnh có đường chỉ dạng đảo thì phải quan sát thêm đường tình cảm, đường trí não, đường sự nghiệp, đường sức khỏe để tham khảo. Dấu hiệu này thường thấy ở phụ nữ từ 42 đến 48 tuổi thuộc thời kỳ mãn kinh, cho thấy thể lực suy giảm hoặc nhiều bệnh. Nếu đường sinh mệnh và đường trí não đồng thời có đường chỉ dạng đảo cho thấy người đó bị bệnh não (hình 42). Nếu trên đường sinh mệnh có đường chi dạng đảo, trên đường trí não có vết đốm hoặc nốt ruồi cho thây người đó bị viêm não, nhất là trên đường trí não có điểm đen màu tím sậm thì người đó dễ bị đột quỵ, thậm chí đã bị mắc đột quỵ (hình 43). Nếu đường sinh mệnh và đường tình cảm đồng thời có đường chì dạng đảo cho thấy người đó bị bệnh tim (hình 44).
Nếu trên đường sinh mệnh có đường chỉ dạng đảo, trên đường tình cảm có điểm đen hoặc nốt ruồi cho thấy người dó dễ mắc bệnh tìm câp tính (hình 45),
Nếu trên đường sinh mệnh có đường chỉ dạng đảo, đường sức khỏe có hình gợn sóng nhỏ cho thấy dịch mật của người đó quá nhiều. Nếu đồng thời lại thấy đường chỉ dạng dảo hướng lên gò thổ tinh mà gò thổ tinh có đường chỉ ô lưới cho thây người đó mác bệnh vàng da nghiêm trọng (hình 46).
Nêu đầu cuối đường sinh mệnh trở thành dạng đảo cho thây người đó về già bị bệnh mạn tính, lâu dần sẽ tử vong, thường là bệnh liệt, đột quỵ (hình 47).
Đường chỉ tách ra trên đường sinh mệnh
Đường hy vọng: Còn gọi là đường phụ trợ sự nghiệp, đường phụ trợ vận mệnh, đường hạnh vận v.v... Đường hy vọng là đường đi lên của đường sinh mệnh, cho thấy người đó gặp hoàn cảnh khó khăn, nên đặt niềm tin, hy vọng vào tương lai, theo đuổi và phấn đâu, trải qua bao vất vả, khắc phục khó khăn để đạt được. Đường này sâu rõ, to và vượt trên đường tình cảm đến dưới ngón tay, ở giữa không có đường chỉ nhỏ cắt ngang, không có đường chỉ dạng đảo, đường chỉ hình chữ “V" ngược là tốt, cho thấy người đó cuối cùng sẽ đạt được thành công (hình 48).
Đường phóng túng: Còn gọi là đường túng dục, là đường ảnh hưởng phá hoại trên đường sinh mệnh, cũng có trường hợp tách ra từ đường sinh mệnh đi xuống, cả hai đều có độ cung nhỏ cong lên, chúng ta có thế tìm được manh môi những khái niệm này từ “đường chỉ quẻ Chân” và “đường chi hỏa loạn” trong Ma Y tướng thuật (hình 49, 50).
Sở dĩ đường phóng túng được gọi ìà đường túng dục hoặc vì nó cho thấy người đó có nội tâm trống rỗng nên tìm kiếm kích thích, nếu chỉ là một đường chỉ ngang qua đường sinh mệnh thì cho thấy người đó ham mê tửu sắc, cờ bạc, nghiện hút.
Nếu đường phóng túng sàu, rõ và dài, có hình vòng cung đâm vào cưng Càn cho thấy người đó ham mê tửu sắc, túng dục vố độ, khó tránh khỏi chứng cạn kiệt tinh lực mà chết, độ tuổi nó phá hoại đường sinh mệnh có thể đoán là độ tuổi người đó chết do túng dục (hình 51).
Đường sinh mệnh trong: Là đường chị em sinh cùng vối đường sinh mệnh, vì nó nằm vĩnh viễn trong vòng cung đường sinh mệnh, nên được gọi là đường sinh mệnh trong (hình 52).
Đường sinh mệnh có hỉnh xoay: Có hai hình dạng:
Một là cuối đường sinh mệnh xoay lên thành dạng móc câu, cho thấy người đó sẽ bị hư nhược, thậm chí khó thở mà nguy hiểm đến tính mệnh (hình 53).
Hai là giữa đường sinh mệnh rẽ gấp đi vào và kết thúc ở cung Càn, phần lớn thấy ở phụ nừ trung niên, cho thấy người đó bị u tử cung, ung thư tử cung hoặc các bệnh phụ khoa nghiêm trọng khác cần phải phẫu thuật, thậm chí vì thế mà tử vong (hình 54).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét