HỆ THỐNG BIẾN LƯỢNG THEO THỜI GIAN, KHÔNG GIAN CỦA MẬT MÃ SINH MỆNH
TỔNG LUẬN
Chúng tôi đã giới thiệu hệ thống định tính của mật mã sinh mệnh, nắm được đặc trưng của các dấu hiệu bình thường và bất bình thường, may mắn và tai hoạ, khoẻ mạnh và bệnh tật... trong cuộc đời của một con người; cũng đã giới thiệu cơ thể con người như một hệ thống mở, mỗi bộ phận trên cơ thể con người đều phản ánh đầy đủ trạng thái và hình thức kết cấu của sinh mệnh tổng thể, đồng thời căn cứ vào các mật mã sinh mệnh xuất hiện tại các vị trí tương ứng của cơ thể, chỉ ra vị trí tương ứng của hệ thống chức năng tượng trưng cho bộ phận đó là trạng thái sinh mệ-nh gì.
Tuy nhiên như vậy vẫn chưa toàn diện, cần phải tìm hiểu hệ thống thời gian diễn biến của mật mã sinh mệnh. Nắm được cái đó mới có thể biết được sự thay đổi diễn ra vào thời gian nào và tại vị trí nào. Xét về bản chất, mật mã sinh mệnh là trường sinh mệnh khí tượng được định vị bởi hệ thống mã sô và trình tự của các dấu hiệu thông tin sinh mệnh vô cực, cùng với các vị trí thích hợp hoặc vị trí khác thườrtg, vị trí sai lầm, vị trí ngược trong quá trình vận hành hệ thống mã số và trình tự của các dấu hiệu thông tin sinh mệnh thái cực hình thành nên trạng thái tập hợp đa cực. Trạng thái này hiển thị theo quỹ đạo vận hành của một hệ thống mã số và trình tự nhất định, hình thành cơ chê hiệu ứng ngược tự điều chỉnh trong cơ thể, thông qua hình thức trạng thái ẩn hoặc hiện làm cho sinh mệnh biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng trạng thái.
Ví dụ, thiên thể trong các giai đoạn phát triển của vũ trụ, đồng thời được thể hiện trong cùng một không gian vũ trụ. Hình ảnh chụp một gốc cây cho thấy, hệ thống mật mã sinh mệnh của gốc cây đó bao gồm hệ thống mã số và trình tự dấu hiệu chưa sinh trưởng và hiển thị toàn bộ các thông tin từ khi sinh trưởng đến khi phát triển và chết của cây. Căn cứ vào các mã số phản ánh trên gốc cây có thể biết được cây sẽ nảy mầm từ khi nào, cao bao nhiêu mét, có bao nhiêu nhánh cày, bao nhiêu tán, bao nhiêu lá, khi nào nở hoa, khi nào kết quả, bao lâu thì khô chết, điều này đã được quy định từ trước. Quá trình bẩm sinh là quá trình tích tụ khí của sự vật, từ khí hoá chuyển sang vật hoá, ngược lại quá trình sinh trưởng, phát triển và mất đi là quá trình hao tán, từ vật hoá qua quá trình phân giải chuyển sang khí hoá. Do đó, trạng thái sinh mệnh của một con người, quá khứ, hiện tại, tương lai, những gì đã diễn ra, đang diễn ra và sắp diễn ra cũng như tất cả mọi sự thay đổi đều được thề’ hiện trên cùng một khuôn mặt, cùng một bàn tay. Hay nói cách khác, những biến cố của cuộc đời một con người đều dược phản ánh khá rõ nét trên khuôn mặt và bàn tay đó. Chu kỳ của một sinh mệnh luôn vận động theo một trình tự chỉnh tề. Như vậy, chỉ khi nắm được diễn biến của chu kỳ sinh mệnh, chúng ta mới có thể giải mã được chu kỳ sinh mệnh, nắm bắt và nhận thức được nó. Nếu không, tất cả chỉ là một "mớ hỗn độn” nắm bắt sinh mệnh theo cảm tính, không chuẩn xác.
Diễn biến của chu kỳ sinh mệnh là sự thay đổi về thời gian, toàn bộ diễn biến về thời gian là một chu kỳ vận động tổng thể của sinh mệnh. Trong chu kỳ thổng thể này, có các giai đoạn, sinh ra, trưởng thành, thành đạt, già, tù tội và chết gọi là "Túc điểm", đây chính là điểm "Chỉ túc" của quá trình vận động của sinh mệnh. Mỗi một điểm "Chỉ túc" là định lượng của mật mã sinh mệnh, thể hiện trạng thái cục bộ hoặc tổng thể trong một giai đoạn sinh mệnh nào đó. Trong thời kỳ này tướng mệnh của con người dược gọi là "Túc mệnh"; diễn biến của thời gian này được gọi là "Vận thế" cũng chính là xu thế phát triển của sinh mệnh, cách quan sát và giải thích vận mệnh như vậy được coi là một khoa học. Vận mệnh là quá trình vận hành của trạng thái tự tổ chức của mỗi một sinh mệnh thể. Chỉ khi nắm được diễn biến thời gian của mật mã sinh mệnh thì tổng thể sinh mệnh mới có thể chuyển đổi được, ở bất kỳ điểm nào trên hệ thống mật mã sinh mệnh đều có thể phán đoán được quá khứ và tương lai của một con người.
Hệ thống định tính của mật mã sinh mệnh có thể vận dụng để phán đoán quá khứ, hiện tại và tương lai trạng thái sinh mệnh của một cá thể nhân loại. Hệ thống định vị của mật mã sinh mệnh, có thể vận dụng vào trạng thái tổng thể kết cấu sinh mệnh của một cá thể nhân loại. Hệ thống định lượng thời gian của mật mã sinh mệnh có thể được vận dụng vào chu kỳ sinh mệnh của các cá thể nhân loại. Kết hợp ba hệ thống đó lại với nhau có thể giải thích được ý nghĩa tổng thể của mật mã sinh mệnh.
ĐỊNH VỊ BIẾN LƯỢNG THEO THỜI GIAN
CỦA MẬT MÃ VÂN TAY
Điểm khởi đầu và kết thúc của các khu vực và vân tay chủ yếu
Diễn biến thời gian của vân tay, nguyên là trạng thái tự nhiên tự tổ chức của cơ thể. Nếu chúng ta muốn giải mã nó, cần phải tính toán "Trình tự' của trạng thái "Tự tổ chức" bằng phương pháp toán học, đây chính là "số" của các nhân tố mật mã sinh mệnh như: Khí, tượng, số và lý. Đây là những số liệu chứng minh thực tế rất cần thiết trong khoa học. Chỉ tiêu số hoá trạng thái sinh mệnh của con người thể hiện thông qua nhóm tuổi trên vân tay. Do đó, việc xác định quy luật diễn biến thời gian của vân tay có thể biết được tổ hợp tụổi của trạng thái sinh mệnh thể hiện trên các vân tay. Điều quan trọng là phải làm rõ điểm khởi đầu và kết thúc của các đương vân tay, sau đó có thể xác định dược vị trí tương ứng của các bộ phận cơ thể trên các đường vân tay.
- Điểm khởi đầu của đường sinh mệnh ở phía của ngón cái, thể hiện sức sống tổng thể của một con người, diễn biến trạng thái sức khoẻ, từ đoạn khởi đầu của đường sinh mệnh là thời thơ ấu, tiếp đó là thời thiếu niên, thanh niên, trưởng thành, về già, kết thúc ở cổ tay phía dưới gò Kim tinh (Hình 52-1).
- Đường Ngọc trụ bắt đầu từ đoạn giữa của đường vân cổ tay phía dưới gò Nguyệt, kéo dài đến phía dưới gò của ngón giữa. Đường Ngọc trụ chủ yếu thể hiện diễn biến thời gian trạng thái chức năng của lục phủ ngũ tạng trong cơ thể (Hình 52-2).
- Điểm khởi đầu của đường trí tuệ ở phía trên gò Hoả tinh thứ nhất hoặc có cùng điểm khởi đầu với đường sinh mệnh hoặc hơi chếch lên trên một chút. Đoạn thể hiện diễn biến thời gian của chỉ số IQ tính từ đoạn cuối cua đường trí tuệ trở đi (sát với một đoạn của gò Nguyệt). Đoạn thể hiện trạng thái khoẻ mạnh của hệ thống tuần hoàn máu và hệ thống não bộ được tính từ đoạn khởi đầu của đường trí tuệ (Hình 52-3).
Đường tình cảm có điểm khởi đầu bên ngoài gò của ngón út (bên ngoài gò Thuỷ tinh). Đoạn thể hiện diễn biến thời gian của hệ thống tâm lý tình cảm, hệ thống trung khu thần kinh, chức năng sinh dục, khả năng sinh dục và tình cảm trong hôn nhân, tình yêu, tình cảm đối với người thân... được tính từ đầu đường tình cảm trở đi (Hình 52-4).
Đường vận mệnh (hoặc đường Ngọc trụ, đường sự nghiệp) có điểm khởi đầu từ gò Nguyệt hoặc chính giữa phía dưới gò Địa hoặc cuối đường sinh mệnh phía dưới gò Kim tinh. Đường vận mệnh thể hiện vận thế tổng thể của cuộc đời, tính từ đoạn khởi đầu trở đi, tiếp đó đến thời kỳ thơ ấu, thiếu niên,, thanh niên, trưởng thành, về già. Điểm tuổi tác từ dưới lên trên của ngườị trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) phân bố từ thưa đến dầy. So với thời kỳ trưởng thành, điểm độ tuổi của thời kỳ thiếu niên nhi đồng phân bố càng thưa thớt hơn, phía trên dầy hơn, chủ yếu là do tay của thiếu niên nhi đồng đang phát triển, vẫn chưa có định hình cụ thể (Hình 52-5).
Đoạn thể hiện dịễn biến thời gian sự khởi đầu vận mệnh và chuyển mệnh được tính từ đoạn cuôi của đường sinh mệnh. Đường vân thể hiện sự bắt đầu của vận mệnh và chuyển mệnh là dấu hiệu đường vân kéo dài từ một điếm nào nằm trên đường sinh mệnh và có chiều hướng lên trên. Điểm tuổi tác thường nằm ở điểm liên hợp giữa đoạn đầu của đường khởi vận, đường chuyển vận với đường sinh mệnh.
Toạ độ đơn giản về diễn biên thời gian của mật mã vân tay ’
Gọi điểm ngoài cùng của đoạn giao nhau giữa gốc của ngón út với gò Thuỷ tinh là điểm A, gọi trung điểm của đường sinh mệnh, tương đương với điểm chính giữa của gò Kim tinh hoặc điểm chính giữa của gò ngón cái là điểm B, C; tạo thành một đường thẳng giả tưởng, các điểm giao nhau giữa đường thẳng này với đường sinh mệnh, đường trí tuệ, đường vận mệnh, đường tình cảm... tương ứng với tuổi 35.
Điểm thể hiện tuổi 35 có thể được coi là trục toạ độ diễn biến thời gian của mật mã sinh mệnh. Tất cả các điểm độ tuổi nằm ở đoạn cuối của trục 35 tuổi là từ 35 tuổi trở lên; các điểm độ tuổi nằm ở đoạn đầu của trục 35 tuổi là từ 35 tuổi trở xuống.
Điểm tuổi tác dưới 35 tuổi mật độ phân bô' từ dầy đến thưa, ngược lại điểm tuổi tác trên 35 tuổi mật độ phân bố từ thưa đến dầy. Một số người lấy điểm độ tũoi 35 làm cơ sở để đo bằng thước, lấy giá trị bình quân tuyệt đối mỗi mi-li-mét tương ứng với mấy tuổi để tính điểm độ tuổi, như vậy đã phạm phải sai lầm hình thức tuyệt đối tuyến tính, không có căn cứ sinh lí học.
- Đường Ngọc trụ hoặc đường vận mệnh, nằm ở chính giữa điểm giao nhau giữa đường trí tuệ và đường tình cảm là điểm ở độ tuổi 40, điểm giao nhau với đường tình cảm là điểm ở độ tuổi 50. Căn cứ vào mật độ điểm tuổi tác từ 35-40-50, cơ bản có thể tính ra được vị trí điểm độ tuổi từ 50-60-70-80.
- Đường tình cảm, thực chất là đường thể hiện sự thành thục trong quan hệ tình dục. lình cảm thường nảy sinh từ sắc đẹp, từ sắc đẹp sinh tình, từ tình sinh ra "mến" và "yêu". Nữ thường 14 tuổi đã có kinh nguyệt, nam giới thường 16 tuổi bắt đầu có tinh trùng. Do đó, nhìn thẳng vào bên ngoài gò Thuỷ tinh, điểm khởi đầu của đường tình cảm không phải là điểm thể hiện 1 tuổi mà là 14-16-20 tuổi. Điểm giao nhau giữa đường tình cảm với đường giữa kéo dài từ ngón út xuống phía dưới là điểm thể hiện tuổi 25; điểm phía dưới chỗ tiếp giáp giữa ngón út và ngón đeo nhẫn, trên đường tình cảm thể hiện độ tuổi từ 27 - 28 tuổi.
Hình 53: Hình vẽ toạ độ đơn giản về diễn biến thời gian của mật mã vân tay
- Điểm giao nhau giữa đường sinh mệnh với đường thẳng kéo dài từ phía ngoài ngón trỏ (phía giáp với ngón út) xuống phía dưới, nếu tại điểm này có đường khởi mệnh, thì thường là điểm thể hiện độ tuổi 55.
Xét trên góc độ sinh lý, khu vực xung quanh huyệt "Lao cung" trên đường trí tuệ là khu vực thế hiện chức nàng của tim, khu vực giao nhau giữa đường trí tuệ với đường sính mệnh là khu vực thể hiện thần kinh não bộ, các khu vực khác trên đường trí tuệ là khu vực tượng trưng cho tuỷ sông và tuần hoàn máu. Khu vực thể hiện độ tuổi mắc bệnh di truyền bẩm sinh được xác định như sau: Đoạn khởi đầu của đường trí tuệ tượng trưng cho thời thơ ấu, đoạn cuối của đường trí tuệ tượng trưng cho giai đoạn về già.
Độ tuổi mắc bệnh bẩm sinh liên quan đến tim và não có cách tính ngược lại so với mục trên, điều này các chuyên gia y học và học giả của ngành y học cổ truyền phương Đông cần đặc biệt chú ý.
Đoạn đầu của đường tình cảm (phía dưới ngón út) chủ yếu là đường tình dục (14-16-26 tuổi), là khu vực thể hiện sự thuần khiết trong tình cảm; đoạn giữa (phía dưới ngón đeo nhẫn) chủ yếu thể hiện quan hệ yêu đương đang ở giai đoạn cao trào hoặc là thời kỳ cao trào trong tình yêu nam nữ (27 - 45 tuổi); đoạn cuối (phía dưới ngón giữa hoặc phía dưới chỗ tiếp giáp giữa ngón trỏ và ngón giữa) chủ yếu tượng trưng cho thời kỳ hưởng thụ trong tình yêu, trách nhiệm đối với gia đình, khí chất và học thức đang ở giai đoạn chín muồi, hoặc thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp (46- 70 tuổi).
Tuổi 45 thường được coi là một bước ngoặt quan trọng trong phương diện tình cảm của cuộc đời một con người, do đó ở điểm tượng trưng cho tuổi 45 của đường tính tình, thường phân thành một đường nhánh hoặc ở cùng một vị trí trên đường trí tuệ phân thành một đường nhánh, gò Mộc tinh trên hai bàn tay đều tượng trưng cho trung khu của đại não thứ hai, cho thấy toàn bộ tinh lực của người này dồn vào sự nghiệp. Điểm thể hiện tuổi tác từ 50 tuổi trở lên của dường Ngọc trụ kéo dài đến gò của ngón giữa là khu vực tượng trưng cho trung khu của đại não thứ hai. Đường trí tuệ thường nằm ở phía dưới đoạn thể hiện độ tuổi từ 35 - 70 tuổi, cho thấy cục diện tổng thể của cuộc đời một con người.
Vận dụng linh hoạt đại lượng bỉến đổi thời gian
Sự thay đổi tổng thể đại lượng biến đổi thời gian nói trên mặc dù được chứng minh nhiều lần trong thực tiễn cuộc sống, nhưng do hình dáng bàn tay, to nhỏ, tuổi thọ và tuổi tác của mỗi người là khác nhau, do đó cần vận dụng linh hoạt những nguyên tắc trên phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Những người có kinh nghiệm phong phú sẽ xác định được vị trí tuổi tác rất nhanh và chính xác. Mỗi người có thể dựa vào kinh nghiệm của mình để áp dụng phương pháp xác định nhóm tuổi tác thiết thực và phù hợp.
Theo kinh nghiệm của tôi, dựa vào trực giác là đáng tin cậy nhất, nếu chỉ dựa vào lý trí hoặc cảm tính thì độ chuẩn xác không cao. Ngoài ra, có thể kiểm chứng nhiều lần thông qua tuổi tác thực tế của đốì phương. Tức là, trước tiên phải dựa vào kính nghiêm của mình để xác định vị trí tuổi tác trên vân tay, sau đó kiểm chứng thực tế. Nếu thích hợp với bất kỳ người nào thì đó là một quy luật, có thể vận dụng. Tuy nhiên, nếu có sai sót thì phải kiểm tra xem sai sót do đâu, từ đó cũng có thể tìm ra những lý luận mang tính quy luật.
ĐỊNH VỊ BIẾN LƯƠNG THEO THỜI GIAN
CỦA MẬT MÃ TƯỢNG MẶT
Y học cổ truyền phương Đông không chỉ xác định mối liên hệ giữa các bộ phận của đầu với các cơ quan nội tạng trong cơ thể, mà còn xác định vị trí tuổi tác trên khuôn mặt. Cụ thể như sau:
Trán tượng trưng cho thời kỳ thanh thiếu niên từ 1 tuổi đến trước 25 tuổi.
Khu vực từ lông mày đến đầu mũi tượng trưng cho độ tuổi trưởng thành từ 25 đến 50 tuổi. Từ 25 đến 30 tuổi có thế xem ở khu vực lông mày. Từ 30 - 40 tuổi xem mắt. Từ 40 - 50 tuổi xem khu vực mũi.
Khu vực từ đầu mũi đến cằm tượng trưng cho thời kỳ từ 50 tuổi đến khi về già. Trong đó, khu vực nhân trung và gò quyền lực tượng trưng cho giai đoạn từ 50 - 60 tuổi, miệng và cằm tượng trưng cho độ tuổi từ 60 - 70 tuổi, quai hàm tượng trưng cho độ tuổi từ 70 - 80 tuổi, má tượng trưng cho giai đoạn từ 80 - 90 tuổi, cằm tượng trưng cho độ tuổi từ 90 - 100 tuổi.
Hình 54: Định vị biến lượng theo thời gian của mật mã tượng mặt
Tại sao các vị trí khác nhau trên khuôn mặt có thể tượng trưng cho những nhóm tuổi khác nhau? về cơ bản các khu vực này có mối liên hệ nội tại với chức năng của các vị trí thể hiện và các chức năng nội tạng có liên quan đến các vị trí này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét